Dạy bé các phương tiện giao thông | Vạn điều hay cho bé
Những phóng sự về chiến tranh Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:59' 18-04-2024
Dung lượng: 866.4 KB
Số lượt tải: 7
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:59' 18-04-2024
Dung lượng: 866.4 KB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
Những Phóng Sự Về Chiến Tranh Việt Nam
Nhiều tác giả
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
NHỮNG PHÓNG SỰ VỀ CHIẾN TRANH
TÁC GIẢ
LỜI GIỚI THIỆU
SỰ SỤP ĐỔ CỦA DÒNG HỌ NGÔ ĐÌNH
KHÔNG KÍCH TẠI VIỆT NAM TƯỜNG THUẬT VỀ MỘT CUỘC CHIẾN KHÔNG NHÂN DIỆN
KHÔNG PHẢI BỒ CÂU NHƯNG KHÔNG CÒN LÀ DIỀU HÂU NỮA
VỤ THẢM SÁT MỸ LAI
CHÂN DUNG MỘT KẺ CHUYÊN CHẾ HẾT THỜI
CHÚNG TÔI LUÔN SỐNG SÓT
TÁC GIẢ
• Tom Buckley (2.1.1930-) Tên thật là Thomas F.S.Buckley, ra đời ở Charham, New
York. Tốt nghiệp Đại học Columbia năm 1950, sau đó phục vụ hai năm trong quân đội. Về làm
cho The New York Times năm 1953 trong vai trò biên tập tin, viết lại tin, và phóng viên (tại
Việt Nam 1966-68). Về làm ban biên tập tờ The New York Times Magazine từ 1968 đến 1973,
sau đó phụ trách trang mục và viết chuyên luận. Từ 1980 ông trở thành phóng viên tự do và in
cuốn Violent Neighbor: El Sai-vador, Central America, and the United States năm 1984.
• Bernard B.Fall (11.11.1926-21.2.1967) Sinh tại Vienna, Áo. Phục vụ trong phong
trào Kháng chiến Pháp và Sư đoàn 4 miền núi Morocco trong Thế chiến 2; sau chiến tranh làm
điều tra viên tội ác chiến tranh và làm trong Tòa án Tội ác chiến tranh Nuremberg (l946-50)
rồi về làm quản lý cho tờ Stars and Stripes ở Nuremberg (1950-51). Học tại Đại học Paris và
Munich (1948-50), rồi học chương trình hải ngoại của Đại học Maryland, và Đại học Syracuse
và nhận bằng tiến sĩ tại đây năm 1955. Dạy tại các đại học Mỹ từ 1954, giảng về Châu Á học ở
Đại học Cornell, trợ giảng ở Đại học American, và giáo sư về bang giao quốc tế ở Howard
(1956-67). Nhận giải thưởng George Polk năm 1966. Tác giả của The Viet-minh Regime
(1954), Street Without Joy: Indochina at War, 1946-54 (1961), Two Viet-nams: A Political and
Military History (1963), Viet-nam Witness, 1953-66 (1966), Hell in a Very Small Place (1967),
và biên tập cuốn Ho Chi Minh on Revolution: Select Writtings 1920-1966 (1967). Bị chết vì
mìn. Những bài viết chưa xuất bản của ông được in sau khi ông mất trong Last Reflections on a
War (1967).
• Seymour M.Hersh (8.4.1937-) Ra đời tại Chicago, Illinois, học ở Đại học Chicago. Bắt
đầu sự nghiệp báo chí với nghề phóng viên tội phạm cho Phòng tin tức thành phố Chicago,
1959-60. Sau đó làm thông tín viên cho hãng UPI ở Piene, Nam Dakota, 1962-63; thông tín viên
cho hãng AP tại Chicago và Washington, 1963-67, và tại Lầu Năm Góc từ 1966. Rút khỏi hãng
AP năm 1967 sau khi một mẩu tin về chiến tranh vi trùng bị biên tập tan nát; rồi làm thư ký
báo chí một thời gian ngắn trong chiến dịch tranh cử sơ khởi của Eugene Mccarthy tại New
Hampshire. Đoạt giải Pulitzer 1970 với phóng sự về vụ thảm sát Mỹ Lai. Tác giả của Chemical
and Biological Warfare: America's Hidden Arsenal (1969), Mỹ Lai 4: A Report on the Massacre
and Its Aftermath (1970), The Price of power: Kissinger in the Nixon White House (1983), The
Target Is Destroyed. What Really Happened to Flight 007 (1986), The Sam son Option: Ismel
Nuclear Arsenal and America's Foreign Policy (1991), và The Dark Si de of Camelot (1998).
• Stanley Karnow (4.2.1925-) Sinh tại New York City. Phục vụ trong Không quân Mỹ ba
năm từ 1943; sau đó học tại Harvard, Sorbone, và Học viện Chính trị học của Pháp. Bắt đầu sự
nghiệp ở Paris trong vai trò thông tín viên cho tờ Time (1950-57); sau đó làm trưởng văn
phòng tập đoàn Time-life ở Bắc Phi (1958-59) và Hồng Công (1959-62), thông tín viên đặc
biệt cho tờ London Observer (1961-65) và Time (1962-63), và phóng viên nước ngoài cho tờ
The Saturday Evemng Post (1963-65). Vào ban biên tập của tờ The Washington Post năm
1965 với vai trò thông tín viên ở Trung Đông, tường thuật về Việt Nam, Đông Nam Á, và Trung
Quốc; là thông tín viên ngoại giao cho tờ Post năm 1971 và 1972. Làm thông tín viên cho hãng
NBC News từ 1973 đến 1975; đồng thời làm phụ tá biên tập cho The New Republic (1973-75),
giữ mục Kinh Features (1975-88), và phụ trách chuyên mục cho Newsweek (1977-81). Là
thông tín viên trưởng cho các loạt phim của hãng PBS Vietnam: A Television History (1983;
Việt Nam: Thiên sử truyền hình) và The US and the Philippines: In Our Image (1989). Những
sách của ông có Southeast Asia (1963), Mao and Chia: From Revolustion to Revolution (1972),
Vietnam: A History (1983), In Our Image: Amenca's Empore in the Philippines (1989, đoạt giải
Pulitzer về sách lịch sử), và Paris in the Fifties (1997).
• Robert Shaplen (22.3.1917-15.5.1988) Tên đầy đủ là Robert Modell Shaplen, sinh tại
Philadelphia; học tại Đại học Wisconsin (lấy bằng BA năm 1937). Sau khi nhận bằng thạc sĩ
báo chí ở Đại học Columbia (1938), ông làm phóng viên cho tờ Herald Tribune ở New York
(1937-43). Tường thuật về chiến tranh Thái Bình Dương cho tờ Newsweek, 1943-45; sau đó
về làm trưởng văn phòng Viễn đông cho tờ này (1946-47). Rời tờ Newsweek để làm thành viên
quỹ Nieman ở Harvard (1947-48), viết cho tờ Fortune (1948-50) và thông tín viên châu Á cho
tờ Collier's (1950-52). Gia nhập ban biên tập tờ The New Yorker năm 1952, và làm ở đây cho
đến khi mất, từ 1962 đến 1978 ông làm thông tín viên cho tờ này ở Viễn Đông. Các sách của
ông có A Corner of the World (1949), Free Loe and Heavenly Sinners: The Story of the Great
Henry Wrard Beecher Scandal (1954), A Forest of Tigers (tiểu thuyết, 1956), Kreuger: Gemus
and Swindler (1960), The Lost Revolution (1965), Time out of Hanh. Revolution and Reaction
in Southeast Asia (1969), The Road from War: Vietnam 1965-1970 (1970), A Tuming Wheel
(1979), và Bitter Victory (1986).
• Neil Sheehan (27.10.1936-) Tên thật là Comelius Mahoney Sheehan, sinh tại
Holyoke, Massachusetts, tốt nghiệp Đại học Harvard năm 1958. Làm trưởng văn phòng Saigon
cho hãng tin AP từ 1962 đến 1964. Về tờ The New York Times năm 1964, làm phóng viên tại
New York, thông tín viên hải ngoại ở Indonesia 1965) và Việt Nam (1965-69) và phóng viên
điều tra đặc biệt tại Washington (1969-72). Có vai trò quan trọng trong việc công bố Hồ sơ
Lầu Năm Góc. Mấy cuốn sách của ông là The Amheiter Affairs (1972), A Bright Shinmng Lie:
John Paul Vann and America in Vietnam (1988, đoạt giải Pulitzer và National Book), và After
the War Was Over: Hanoi and Saigon (1992).
• Peter Braestrup (8.6.1929-10.8.1997) Sinh tại New York City. Sau khi tốt nghiệp Đại
học Yale năm 1951, ông gia nhập TQLC Mỹ đóng tại Triều Tiên; giải ngũ năm 1953 sau khi bị
thương tại trận địa. Bắt đầu sự nghiệp báo chí khi gia nhập ban biên tập Time (1953-57). Sau
đó làm phóng viên cho tờ Hemld Tnbune ở New York, thông tín viên cho The New York Times
ở Angiers, Bangkok và Paris, phóng viên và trưởng văn phòng Saigon cho tờ The Washington
Post (1968-73). Sáng lập tờ Wilson Quanterly năm 1975và làm biên tập chính và giám đốc liên
lạc cho Thư viện Quốc Hội Mỹ (1989-97). Tác giả của Big Story: How the American Press and
Television Reported and Interpreted the Crisis of Tet in Vietnam and Washington (1977) và
Battle Lines: Report of the Twentieth Century Fund Task Force on the Militay and the Media
(1985). Ông qua đời tại Rockport, Maine.
LỜI GIỚI THIỆU
Ngày 30-4-1977, kỷ niệm hai năm ngày giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước,
Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân cho phát hành tập kí sự Tháng Ba ở Tây Nguyên của tôi vừa
viết xong. Tôi đưa cuốn sách đó tới tặng một ông anh họ, vốn là viên chức thời Pháp tạm chiếm
Hà Nội ở lại làm việc cho chính quyền cũ, thường chê văn của tôi là văn tuyên truyền, không đủ
để ông tin. Tôi nói: “Một nửa cuốn sách này là tư liệu tôi thu thập được từ bàn làm việc của
Nguyễn Văn Thiệu, trong các hồ sơ của Bộ Tổng tham mưu và quân khu II của chính quyền Sài
Gòn. Người thật việc thật cả chứ không phải văn hư cấu tuyên truyền đâu”. Ông anh tôi nhìn tôi
không nói gì rồi tủm tỉm cười: ”Việc quái gì tôi phải đọc sách của chú mới đủ tin. Quân ta
không tài giỏi, không mưu lược dễ gì mà đánh thắng thằng Mỹ phải cút, thằng nguỵ phải
nhào?”. Tôi cũng chỉ cười và chẳng cần nói gì thêm.
Nói thế, chứ sau 30 năm ngồi đọc lại những bài báo của những cây bút nổi tiếng trong
giới báo chí thông tấn của Mỹ vẫn cảm thấy thích thú, để được sống lại một thời đau thương và
anh dũng của nhân dân cả nước ta, nhất là của bà con, anh em ta ở mảnh đất anh hùng phía
Nam trong suốt 20 năm phải đối mặt từng ngày với kẻ thù. Các ký giả này vốn là những người
đã tin vào sức mạnh quân sự của Mỹ, và tin cả những mục tiêu chính trị của Mỹ khi tiến hành
cuộc chiến tranh ở mảnh đất này. Họ ủng hộ cái “sứ mạng thần thánh” của đội quân viễn chinh
Mỹ và cũng hy vọng miền Nam Việt Nam sẽ là một mẫu hàng trưng bày đủ sức thuyết phục của
Mỹ về tự do dân chủ, về ổn định và giàu sang theo kiểu Mỹ. Mỹ chẳng đã từng cứu cả một châu
Âu nghèo đói và một nước Nhật hoang tàn vì chiến tranh sau Thế chiến 2 đó sao? Hơn nữa tại
miền Nam Việt Nam, những người cộng sản đã không còn súng, không còn cả quân đội, đang là
người thắng mà thành người thua do cái trớ trêu của lịch sử, phải thi hành nghiêm chỉnh hiệp
Giơneo. Còn Mỹ thì có đủ mọi sức mạnh ở phần đất mới mẻ này, có thể tự do đuổi Pháp đi, tự
do đưa cố vấn vào, tự do huy động quân lính và hậu cần từ những nước vừa là con nợ vừa
muốn chạy theo cuộc chiến tranh của Mỹ để kiếm lời. Mỹ phải thắng là điều chắc chắn. Nên
lính Mỹ và các ký giả nổi tiếng đi theo đoàn quân viễn chinh vào cuộc chiến hết sức vô tư, có
thể cười cợt được, như một chuyến du lịch dài ngày không mất tiền. Nhưng nào có ai ngờ thoạt
đầu là một đội quân thơm tho và lịch thiệp của một nước rất văn minh, chỉ qua vài năm đối
mặt với những người kháng chiến vô hình lập tức trở thành những tên xâm lược đã mất hết
nhân tính, đốt nhà, giết những người già, phụ nữ và trẻ em, mặt mũi u sầu, mắt nhìn điên loạn,
bám chạy theo nhau từ năm này qua năm khác trong rừng già, trong bãi lầy, trong muôn vàn
cái chết mỗi bước chân đi, càng đánh càng u mê, càng tối tăm, như đã chìm sâu dưới chín tầng
địa ngục. Chả còn ai vô tư được nữa, những câu hỏi nghiêm chỉnh đã được đặt ra, người lính Mỹ
tự hỏi, và các nhà báo Mỹ cũng phải tự hỏi. Và họ đã dần dần tìm được những câu trả lời giản dị
và xác thực. Có một mẩu chuyện do ký giả Mỹ Neil Sheehan viết trên tờ The New York Times
năm 1966, khiến tôi đã nổi gai lên như nghe chuyện một vị thần. Neil viết, có một ông tướng
Mỹ đã nói với ông ta về một du kích VC, chỉ một người đã cầm chân cả một đại đội bộ binh Mỹ
suốt một tiếng trong khu rừng phía Bắc Sài Gòn. Anh ấy là người sống sót cuối cùng của một
nhóm người cố thủ trong một công sự chiến đấu. Anh đã bắn hết số đạn của mình, cả đạn của
đồng đội đã chết, ném trả lại những trái lựu đạn Mỹ đã thẩy vào công sự. Sau cùng anh ấy đã
lượm đá ném vào kẻ thù như một thách thức cuối cùng. Ông tướng than thở: “Nếu một trong
những người lính của chúng tôi chiến đấu được như thế…”.
Nước Mỹ đã từng có những người lính như thế trong Thế chiến 2, còn sau này… thì như
các ký giả Mỹ đã thuật cho chúng ta nghe trong các bài viết của họ, dầu đã thuộc về những năm
tháng xa xôi nhưng vẫn khiến mỗi chúng ta vừa đau thương vừa kiêu hãnh về nhiều thế hệ
người Việt Nam trong cả nước, ở mọi phía đã dám hy sinh tất cả cho nền độc lập và tự do của
Tổ quốc.
Nguyễn Khải
SỰ SỤP ĐỔ CỦA DÒNG HỌ NGÔ ĐÌNH
Stanley Karnow
The Sunday Eyening Post, 21-12-1963
Tại nhà thờ Thánh Francico Xavier xây từ thời Pháp trong Chợ Lớn, khu phố Tàu nhếch
nhác của Sài Gòn, buổi lễ ban sáng là dành cho ngày lễ Các linh hồn, ngày của những người đã
chết. Vài phút sau khi giáo dân đã ra về, hai người trong bộ đồ lớn xám đậm bước nhanh qua
khoảng sân rợp bóng cây và vào nhà thờ. Tổng thống Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam và
ông em Ngô Đình Nhu, cả hai đều mệt mỏi sau một đêm không ngủ, đã trở thành kẻ tị nạn ngay
chính tại thủ đô mà họ từng nắm quyền. Trong ngôi nhà thờ hẻo lánh này họ cầu nguyện và
rước lễ, và đó là lần nhập phép bí tích cuối cùng của họ. Chưa đầy một giờ sau thi thể đẫm máu,
co rúm của họ đã nằm tội nghiệp trên sàn một chiếc xe thiết giáp rầm rập chạy qua đường phố
Sài Gòn.
Thế là chấm dứt nền thống trị mong manh của gia đình họ Ngô-một chế độ quả đầu
ngoan cố, tự thị mà trong tám năm cầm quyền ở Nam Việt Nam, đã suy thoái từ chế độ gia
trưởng kém cỏi sang một nền chuyên chế hầu như là điên loạn. Và rồi nền chuyên chế mục nát
của Diệm đã sụp đổ một cách dễ dàng đến kinh ngạc.
Không lâu sau khi khói lửa binh biến tan đi, chỉ huy của nhóm tướng lãnh đảo chánh đã
mời tôi vào văn phòng rộng rãi đầy bản đồ của ông ta. Đại tướng Dương Văn Minh, được người
Mỹ ở Sài Gòn gọi là Big Minh, là một quân nhân to lớn, trông mạnh mẽ, với chiếc răng cửa sún
là dấu hiệu tự hào cho trò tra tấn của người Nhật mà ông ta đã chịu hồi Thế chiến 2. Ông ta là
một con người dịu dàng dễ gây hiểu lầm, và khi nói về vụ đảo chánh đã đưa ông ta lên nắm
quyền, rõ ràng có một vẻ phân trần trong giọng nói của ông ta.
Cho dù nhóm đảo chánh đối diện vấn đề gì trong tương lai-và sẽ toàn là vấn đề lớn-thì
vụ đảo chánh của họ cũng chỉ là một giải pháp thay thế cho chế độ Diệm. Vì thực tế, chính phủ
Diệm đã không làm được các chức năng của nó từ lâu trước khi sụp đổ. Là một quan lại khắc
kỷ, bảo thủ, Diệm không thể đối phó với hai mối nguy cùng một lúc là du kích Cộng sản và
chống đối trong nội bộ ngày càng tăng. Như một vị nhân vật trong bi kịch Shakespeare, ông ta
đã ngả theo những bản năng tồi tệ nhất. Ông ra đã rút khỏi thực tế và ngày càng giao nhiều
quyền hành hơn cho người em Nhu bệnh hoạn, đầy mưu mô, cùng bà vợ xinh đẹp, kiêu ngạo.
Trong tiến trình đó, ông ta dần dần rời xa quân đội, giới trí thức và đám đông quần chúng.
Đồng thời, ông ta xa cách với những người nước ngoài trợ giúp ông ta nhiều nhất. Quá
quan tâm đến hình ảnh của riêng mình, giáo hội Công giáo của Diệm đã cố tách ra khỏi một
chế độ mà một vị cao cấp trong hàng giảo phẩm của Vatican mô tả là “phản động và đầy tính
trung cổ”. Quan trọng hơn, qua việc thuận theo các chính sách áp thuế của Nhu, Diệm đã gây
hiềm khích với Mỹ, quốc gia đã bỏ tiền bạc và sinh mạng để cứu xứ sở của ông ta. “Chúng tôi
muốn thay đổi cách cai trị đất nước này”, một quan chức ngoại giao Mỹ hàng đầu ở Sài Gòn
nói. “Nếu những người nắm quyền không có khả năng tự thay đổi, thì chúng tôi ủng hộ sự thay
đổi những người nắm quyền đó… Chúng tôi chắc chắn tạo ra môi trường và não trạng có thể
thúc đẩy những người chống đối lật đổ ông ta”.
Diệm đã sống bên bờ vực kể từ tháng 11-1960 khi các tiểu đoàn nhảy dù thiện chiến
bao vây phủ tổng thống và sau đó đã ngây thơ để cho ông ta qua mặt bằng lời hứa sẽ cải cách.
Vào tháng 2-1962, hai phi công dùng máy bay chiến đấu tấn công phủ tổng thống khiến nó hư
hại nặng. Cuộc tấn công càng khiến ông ta nghi ngờ mọi người ngoại trừ gia đình và một nhóm
thân cận.
Không ở đâu mà sự nghi ngờ đầy bệnh hoạn của Diệm lại có ảnh hưởng tai hại cho bằng
sự nghi ngờ đối với quân đội, nơi mà các sĩ quan được đánh giá theo lòng trung thành hơn là
theo khả năng quân sự. Một nghi ngờ tưởng tượng về một ai đó là đủ để làm hoen sự nghiệp
của người đó. Ví dụ, một tướng lãnh từng góp sức cứu Diệm trong vụ đảo chánh 1960, sau đó
đã bị nghi ngờ vì ông ta đã đi qua trận tuyến của địch quá dễ dàng. Thường xuyên lo sợ các
tướng lãnh sẽ lật đổ mình, Diệm đã không cho họ cầm quân. Nhiều tướng lãnh kinh nghiệm
như Đại tướng Minh, quân nhân cao cấp nhất nước, đã bị biến thành phụ tá trong phủ tổng
thống hoặc nhận những vị trí tham mưu vô hại…
… Tuy nhiên, không có gì hủy hoại sâu xa tinh thần chiến đấu của quân đội Nam Việt
Nam bằng những biện pháp áp chế của Diệm đối với Phật giáo, lúc đó là cộng đồng tôn giáo
đông nhất nước. Suốt mùa hè, trong khi cuộc khủng hoảng Phật giáo đã phát triển thành một
phong trào chống đối chính trị rộng rãi đối với chế độ Diệm, một số sĩ quan được bố trí một
cách có chiến lược đã bắt đầu tổ chức một cuộc nổi loạn. Có những nhân vật kỳ lạ và không ai
ngờ trong số họ. Đại tá Đỗ Mậu, Cục trưởng An ninh quân đội chẳng hạn, bị Diệm nghi ngờ vì có
tình cảm thân Phật giáo đến nỗi ông ta cảm thấy buộc lòng phải tham gia âm mưu đảo chánh.
Trung tá Phạm Ngọc Thảo, người của Việt Minh, là một trong những người tin cẩn của Diệm,
đã miễn cưỡng theo phe chống đối, với niềm tin rằng chỉ làm cho chế độ này sụp đổ thì mới
cứu được đất nước.
Những người dụ mưu làm việc rất thận trọng. Đôi khi họ gặp nhau tại nhà riêng;
thường thì họ nói chuyện ở vùng nông thôn; đôi khi cuộc trao đổi lại xảy ra trong các hộp đêm
ồn ào của Sài Gòn. Tới đầu mùa thu, họ đã kiểm soát được một lực lượng mạnh gồm 2.500 lính
dù, TQLC, bộ binh và thiết giáp.
Tuy nhiên, trong khi những sĩ quan trẻ đang lập kế hoạch đảo chánh thì một nhóm
tướng lãnh có uy thế hơn, cầm đầu là Đại tướng Minh, cũng nghiên cứu những cách thức để lật
đổ chính phủ. Khi cả hai nhóm tìm cách giành vị trí tốt, các tướng lãnh cũng cho người về các
tỉnh để huy động các lực lượng có thể hữu dụng. Đến tháng 8, ngay đỉnh cao của cuộc khủng
hoảng Phật giáo, họ đề nghị với Diệm và Nhu rằng nên ban bố thiết quân luật và đưa một số
đơn vị quân đội vào Sài Gòn. Họ bí mật dàn xếp để ra lệnh cho các toán quân này nổi dậy.
Do liên tục nghi ngờ, Ngô Đình Nhu đã khôn ngoan bác bỏ kế hoạch này. Ông ta chấp
nhận ý kiến ban bố thiết quân luật của các tướng lãnh. Nhưng thay vì để họ điều quân lính ở
các tỉnh vào, ông ta đã giao quyền kiểm soát quân sự cho Tôn Thất Đính, một tướng lãnh tin
cẩn. Dưới sự chỉ huy chiến thuật của Đính, các lực lượng đặc nhiệm và cảnh sát chìm của Nhu
đã bố ráp các ngôi chùa trong thành phố ngày 21 tháng 8. Và sau đó, Đính coi mình là anh hùng
dân tộc. “Tôi đã đánh bại Henry Cabot Lodge”, ông ta tuyên bố. “Y sang đây để giật dây một vụ
đảo chánh, nhưng tôi, Tôn Thất Đính, đã hạ y và cứu đất nước”.
Một tuần sau những vụ bố ráp bạo lực vào các chùa, những người âm mưu bạo loạn tại
Việt Nam đã rất phấn khởi trước những dấu hiệu rõ rệt cho thấy người Mỹ không còn ưa được
chế độ Diệm. Tổng thống Kennedy nói rõ rằng ông ta không tán thành gia đình họ Ngô. Viện
trợ Mỹ cho Việt Nam bị cắt giảm, và Đại sứ Lodge nói thẳng với Diệm rằng ông Ngô Đình Nhu
nên rút lui. Và trưởng chi nhánh CIA tại Sài Gòn, John Richardson, người nằm trong nhóm công
tác Mỹ thân cận với Nhu nhất, cũng bị triệu hồi về nước.
… Tướng Đính lúc này tuyên bố ông ta vẫn trunh thành với Diệm trong hy vọng sửa đổi
được tổng thống. Nhưng nhiều người Việt am hiểu tình hình đất nước nhất định rằng Đín thực
ra ở lại với gia đình thống trị này để tham gia vào một âm mưu hoang đường nào đó do Ngô
Đình Nhu vạch ra. Mạng lưới dày đặc điệp viên đã cho ông ta biết về những cuộc nổi loạn manh
nha, và Nhu lập ra một kế hoạch để kết liễu mọi âm mưu như thế. Đó là cuộc đảo chánh giả mà
Nhu gọi là “Chiến dịch Bravo”. “Những vụ đảo chánh cũng giống như những quả trứng, nó phải
bị vỡ thì gà con mới chui ra được”, ông ta nói.
Vào một ngày đã định trước đầu tháng 11, theo kế hoạch, tư lệnh Lực lượng đặc biệt
vốn trung thành với Nhu, Đại tá Lê Quang Tung, sẽ tiến hành một cuộc nổi dậy ở Sài Gòn với sự
yểm trợ của những nhóm cảnh sát được tuyển chọn kỹ lưỡng. Diệm, Nhu và những nhân vật
chọn lọc trong phủ tổng thống sẽ chạy ra một điểm trú ẩn đã chuẩn bị sẵn ở Vũng Tàu, một
điểm nghỉ mát ven biển nằm ở phía đông thủ đô. Tướng Đính và những toán quân trung thành
sẽ đóng ở ngoại vi thủ đô. Bên trong Sài Gòn, bạo loạn sẽ lập tức nổ ra. Các băng nhóm tội
phạm sẽ cướp bóc và phá phách-nhất là những khu nhà của người Mỹ. Một số thủ lĩnh sinh
viên-nhất và phái Phật giáo sẽ có thể bị giết. Trong cơn hỗn loạn ấy, Đại tá Tung “nổi loạn” sẽ
thông báo thành lập một “Chính phủ cách mạng" bao gồm những nhân vật đối lập chính trị với
Diệm. Cha của bà Nhu, Trần Văn Chương, cựu đại sứ Việt Nam tại Washington nhưng hiện nay
là tay công khai chỉ trích chế độ Diệm, sẽ dược phong làm tổng thống của Chính phủ mới-mà
không có sự đồng ý của ông ta. Đài phát thanh Sài Gòn sẽ tung ra luận điệu chống Mỹ và chủ
trương trung lập đồng thời kêu gọi chấm dứt chiến tranh với Cộng sản.
Những trò này được dự trù kéo dài trong 24 giờ. Rồi, từ những vị trí quanh Sài Gòn, các
toán quân trung thành sẽ tiến vào thành phố và dễ dàng dẹp tan vụ nổi loạn. Diệm sẽ đắc thắng
trở lại thủ đô, lấy lại quyền cai trị hợp pháp của ông ta, và Nhu sẽ có một ngày để ra tay. Vì cú
đảo chánh giả sẽ “chứng tỏ” rằng:
—Những kẻ chống đối Diệm là bọn trung lập, chống Mỹ và thân Cộng. Do đó người Mỹ
đã từ bỏ mọi hy vọng về sự sụp đổ của ông ta.
—Những người chống đối chế độ Diệm không kiểm soát nổi những đám đông cướp phá
vốn nhằm vào người Mỹ. Chỉ có Diệm là có thể bảo đảm an ninh và trật tự.
—Quân đội thực sự ủng hộ Diệm, vì họ không theo phe cách mạng mà còn tấn công dập
tắt nổi loạn nữa.
Bên cạnh những luận điểm tuyên truyền quan trọng này, Nhu hy vọng rằng vụ “đảo
chánh giả” sẽ làm lộ mặt rất nhiều kẻ thù, khiến ông ta có thể nhận ra họ dễ dàng và thanh toán
họ trong tương lai.
Tuy nhiên, Nhu vừa mới vạch ra kế hoạch hoang đường của mình thì các chi tiết của nó
đã lọt tói tai nhiều người. Một số trong bọn họ coi vụ đảo chánh giả là một cơ hội: họ ủng hộ
việc tiến hành, rồi nhân đó làm thực. Một số khác không đồng ý vì cho rằng một chiến dịch
phức tạp như thế sẽ đưa đến rất nhiều rối loạn và đổ máu. Nhóm sĩ quan trẻ thì quyết định hạ
gục Nhu bằng cách đảo chánh thật trước. Ngày tiến hành được quyết định là Thứ Năm, 24
tháng 10.
Tuy nhiên, các tướng lãnh phản bác rằng bất kỳ hành động nào mà không có sự hợp tác
của tướng Đính và binh đoàn Sài Gòn của ông ta đều sẽ có nguy cơ thất bại. Không thể thuyết
phục các sĩ quan trẻ thay đổi kế hoạch, các tướng lãnh đành phá hỏng nó. Họ đưa các trung
đoàn chủ chốt vào một chiến dịch tấn công Cộng sản, và các sĩ quan trẻ không có cách nào khác
hơn việc tạm hoãn kế hoạch lại. Khi một trong những tay dự mưu trở về nhà ngày 24 tháng 10,
anh ta gặp một nhân viên CIA chờ sẵn để hỏi, “Sáng nay sao không tiến hành?”
Ngày 29 tháng 10 Đính đã nằm trong phe nổi dậy. Họ bèn giăng một cái bẫy cho Nhu
bằng cách cố tình cho ông ta nghe phong thanh về cuộc đảo chính. Tướng Đính phái một trong
các phụ tá đến bộ chỉ huy Sư đoàn 7 ở Mỹ Tho, cách Sài Gòn 60 km về phía tây nam. Viên phụ tá
này họp một nhóm sĩ quan của sư đoàn và tuyên bố rằng một cuộc đảo chánh đang được tiến
hành ở Sài Gòn. Ông ta nêu tên một số tướng tá dự mưu, cố tình tiết lộ rằng tướng Đính “không
có tham gia”. Đúng như Đính và những tướng dự mưu trông đợi, có một tay mật báo trong số
các sĩ quan sư đoàn ở Mỹ Tho. Chỉ trong vài giờ, Diệm và Nhu đã nghe tin về âm mưu đang
manh nha này. Hôm sau, tướng Đính được triệu vào phủ tổng thống và khuyến cáo rằng có một
trong những phụ tá của ông ta là kẻ phản bội. Là một diễn viên tuyệt vời, Đính làm một màn
trình diễn ngoạn mục. Khóc lóc và vung tay múa chân, ông ta thề sẽ cho kẻ phản bội đó chết.
Nhưng việc xem xét một chuyện đơn giản như vậy lại ngoài tầm hiểu biết của Nhu.
Thay vào đó, ông ta lại đề nghị Đính thâm nhập hàng ngũ dự mưu và biến nó thành một vụ
phản đảo chánh nhằm vào nhóm dự mưu. Hơn nữa, ông ta còn ra lệnh cho Đính chuẩn bị hành
động vào ngày 1 tháng 11-ngày lễ Các thánh-khi moi công sở Sài Gòn sẽ đóng cửa, đường phố
sẽ vắng vẻ và việc di chuyển quân đội sẽ dễ dàng hơn. Với điệu bộ của một tay âm mưu bậc
thầy, Nhu thông báo rằng kế hoạch này sẽ thay thế cho kế hoạch trước đó của ông ta. Vẫn
không đổi, Nhu gọi kế hoạch mới này là “Chiến dịch Bravo II”.
Vấn đề trước hết của tướng Đính là kéo bốn đại đội Lực lượng đặc biệt trung thành với
Diệm ra khỏi thủ đô. Ông ta lý giải với Đại tá Lê Quang Tung, tư lệnh Lực lượng đặc biệt, rằng
phải đưa những toán quân mới vào Sài Gòn cho Chiến dịch Bravo II. “Nhưng nếu chúng ta đưa
quân dự bị vào thành phố”, Đính nói tiếp, “người Mỹ sẽ bực bội. Họ sẽ phàn nàn rằng chúng ta
không lo chiến đấu với Cộng sản. Nên ta phải nguỵ trang cho kế hoạch bằng cách đưa Lực
lượng đặc biệt về nông thôn. Như thế sẽ gạt được họ”.
Hôm sau, với sự đồng ý của Diệm, Lực lượng đặc biệt rời Sài Gòn. Như thế một trở ngại
lớn cho cuộc đảo chánh đã được tháo gỡ. Bây giờ công việc của Đính là triển khai quân của
mình để đảo chánh.
Trong khi Diệm và Nhu tưởng rằng ông ta đang chuẩn bị cho kế hoạch, Đính mau chóng
điều quân vào và ra Sài Gòn. Ngày đã định là 1 tháng 11; giờ đã định là 1 giờ 30 trưa. Suốt đêm
hôm trước và sáng hôm sau, các binh đoàn nổi loạn tức tốc chiếm các vị trí. Hai tiểu đoàn
TQLC có thiết giáp đi kèm đã sẵn sàng tấn công đài phát thanh và bộ tư lệnh cảnh sát. Một tiểu
đoàn dù, trú đóng tại một điểm nghỉ mát ven biển cách Sài Gòn hơn 100 km, được lệnh ráp nối
với các đơn vị phục vụ và thiết giáp và tiến vào thành phố để tấn công các trại vệ binh tổng
thống phủ. Bộ binh từ phía tây bắc và tây nam cũng được triệu tập.
Khi các cánh quân đã tụ về Sài Gòn, chỉ có những sĩ quan cao cấp mới biết mục đích của
cuộc hành quân. “Tôi nói với trước các đại đội trưởng chuyện chúng tôi sắp làm”, một đại tá
TQLC sau này kể lại, “nhưng tôi không nói thật với cấp trung đội trưởng. Tôi chỉ nói rằng cảnh
sát đang mưu lật đổ Diệm và chúng ta vào cứu tổng thống”. Một trung uý nhảy dù nói: “Khi
chúng tôi lên đường, tôi đã đoán đây là đảo chánh nhưng không biết chắc. Chúng tôi đến một
điểm chỉ huy ở ngoại ô, và một số đại tá nói rằng mục tiêu là các trại vệ binh tổng thống phủ.
'Ai bạn ai thù?' tôi hỏi, va ông ta đáp, 'Ai chống lại chúng ta là thù'”.
Đến giữa buổi sáng 1 tháng 11, toàn bộ khu vực quanh Sài Gòn đầy những di chuyển
lặng lẽ, và không biết chính xác chuyện gì đang xảy ra. Khoảng 9 giờ sáng gì đó, chỉ huy Hải
quân trung thành với Diệm, Đại uý Hồ Tấn Quyền, có hai thuộc hạ tới chúc mừng sinh nhật.
Nhưng sau đó họ đề nghị ông tham gia đảo chánh, và khi ông ta từ chối, họ đã áp tải ông ta ra
ngoại ô và bắn chết.
Các cố vấn quân sự Mỹ sống chung với quân lính Nam Việt Nam và những cố vấn làm
việc với ban tham mưu của tướng Đính biết rõ giờ giấc bùng nổ của cuộc đảo chánh. Họ báo tin
này về cho bộ chỉ huy của họ, nhưng tư lệnh quân đội Mỹ, Đại tướng Paul Harkins, rõ ràng
không tin điều này. Tuy nhiên, Đại sứ Cabot Lodge có vẻ ít hồ nghi hơn. Lúc 10 giờ sáng, ông ta
nhân cuộc viếng thăm Đề đốc Harry Felt, tổng tư lệnh các lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương, để
gặp Diệm trong một giờ. Đó là lần chạm trán kỳ cục. Cả Diệm và Lodge đều biết một biến cố lớn
đang manh nha, và họ nói chuyện quanh “những tin đồn” về một cuộc đảo chánh. Nhưng nếu
như Lodge chờ đợi một chyện xảy ra thực, thì Diệm trông vào Chiến dịch Bravo II, cú phản đảo
chán phức tạp của ông Nhu.
Khi các đơn vị nổi dậy tiến vào vị trí tấn công, các tướng lãnh dự mưu lại dàn xếp một
kế hoạch tinh quái khác. Thứ Sáu là ngày họ vẫn hàng tuần ăn trưa với nhau để bàn bạc các vấn
đề quân sự. Tại một phòng ăn ở Bộ Tổng tham mưu, họ đặt thêm ghế quanh bàn và mời mấy vị
khách đặc biệt, như Đại tá Tư lệnh Lực lượng đặc biệt Lê Quang Tung và những sĩ quan khác
trung thành với Diệm.
Lúc 1 giờ 30 cuộc đảo chánh bùng nổ, dẫn đầu cuộc tấn công, hai tiểu đoàn TQLC tiến
nhanh vào thành phố. Họ mau chóng chiếm đài phát thanh và các đồn cảnh sát, và một sĩ quan
phe nổi dậy lên đài thông báo rằng cuộc đảo chánh đã xảy ra. Trong khi đó, tại bữa ăn trưa, các
tướng lãnh thông báo cho các sĩ quan có mặt rằng đảo chánh đã bắt đầu và mời họ cùng tham
gia. Hầu như mọi người đều đồng ý. Đại tá Tung trung thành với Diệm thẳng thừng từ chối. Khi
bị dẫn ra để xử tử, ông ta gào lên với các tướng lãnh, “Hãy nhớ ai đã gắn sao trên cổ áo cho tụi
bay”.
Tại phủ tổng thống Diệm và Nhu ban đầy nghĩ rằng cú phản đảo chánh của họ đã bắt
đầu. Họ hàon toàn tin tưởng rằng tướng Đính vẫn trung thành với mình và như tính toán, ông
ta sẽ bắt hết các tay chủ mưu và kiểm soát tình hình. Ví dụ, ngay sau khi tiếng súng nổ ra một
viên chức cảnh sát đã điện thoại cho Nhu và hốt hoảng kêu rằng bộ chỉ huy của anh ta bị tấn
công. “Không sao đâu”, Nhu trấn an anh ta: “Tôi biết hết rồi”.
Tuy nhiên, khi thời gian trôi qua, Diệm và ông em bắt đầu cảm thấy có điều bất thường.
Họ nhận được những cú điện thoại của các tướng đảo chánh yêu cầu họ đầu hàng, và họ đã từ
chối. Nhưng sau nhiều lần cố liên lạc với tướng Đính để hỏi chừng nào mới bắt đầu vụ phản
đảo chánh. Mỗi lần như thế họ chỉ có thất vọng. Đính không có mặt ở văn phòng, mà đang ở Bộ
Tổng tham mưu. “Đính chắc đã bị bắt”, Diệm nghe nói như thế, mà vẫn không tưởng tượng
được rằng ông tướng đó đã phản bội mình.
Lúc quá 4 giờ chiều pháo binh phe đảo chánh bắn vào các trại vệ binh phủ tổng thống,
và Diệm biết rằng mình gặp nguy biến. Ông ta điện thoại cho Đại sứ Lodge để báo rằng quân
đội đã nổi loạn. Bình thản xác nhận rằng mình có nghe tiếng súng nổ, Lodge bày tỏ lo ngại cho
sự an nguy của Diệm và nhắc ông ta nhớ rằng các tướng đảo chánh đã đề nghị cho ông ta được
ra nước ngoài bình yên. “Tôi sẽ phục hồi trật tự”, Diệm nạt lại. Lodge đáp: “Nếu tôi có thể làm
gì để đảm bảo an toàn cá nhân cho ông thì cứ cho tôi hay”.
Nhớ lại vụ vây hãm năm 1960 khi ông ta kiên quyết biến một trận thua chắc chắn thành
thắng lợi, Diệm cứ ngoan cố không thay đổi. Qua một máy phát thanh đặc biệt trong phủ tổng
thống, ông ta phát đi lời kêu gọi yêu cầu tư lệnh tiểu khu ở các tỉnh cứu viện. Không một ai trả
lời. Chỉ cách phủ tổng thống vài dãy phố, các vệ binh của Diệm bị vây hãm, và chính phủ tổng
thống cũng bị binh lính cùng thiết giáp bao vây.
Diệm đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho đủ kiểu tấn công. Ví dụ, bên dưới phủ tổng thống, gần
đây ông ta đã cho xây một hầm trú ẩn tránh bom trị giá đến 200.000 đôla. Ông ta đã xây ba
đường hầm dẫn ra khỏi phủ, và ông ta có nhiều kế hoạch rút lui.
Khoảng 8 giờ tối, khi phủ đã bị bao vây, Diệm và Nhu theo đường hầm đi ra một khu
vực lót gỗ trong Cercle Sportif, câu lạc bộ thể thao của Sài Gòn (nay là Cung văn hoá Lao động
TP.HCM). Họ chẳng mang theo gì ngoài một cái cặp nhỏ chứa đầy đôla Mỹ. Ở cửa đường hầm,
một nhóm thủ hạ đã chờ sẵn để đưa họ tới nhà một thương gia người Hoa, Mã Tuyên. Ngôi nhà
này có đường dây điện thoại trực tiếp với phủ tổng thống. Không lực lượng t...
Nhiều tác giả
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
NHỮNG PHÓNG SỰ VỀ CHIẾN TRANH
TÁC GIẢ
LỜI GIỚI THIỆU
SỰ SỤP ĐỔ CỦA DÒNG HỌ NGÔ ĐÌNH
KHÔNG KÍCH TẠI VIỆT NAM TƯỜNG THUẬT VỀ MỘT CUỘC CHIẾN KHÔNG NHÂN DIỆN
KHÔNG PHẢI BỒ CÂU NHƯNG KHÔNG CÒN LÀ DIỀU HÂU NỮA
VỤ THẢM SÁT MỸ LAI
CHÂN DUNG MỘT KẺ CHUYÊN CHẾ HẾT THỜI
CHÚNG TÔI LUÔN SỐNG SÓT
TÁC GIẢ
• Tom Buckley (2.1.1930-) Tên thật là Thomas F.S.Buckley, ra đời ở Charham, New
York. Tốt nghiệp Đại học Columbia năm 1950, sau đó phục vụ hai năm trong quân đội. Về làm
cho The New York Times năm 1953 trong vai trò biên tập tin, viết lại tin, và phóng viên (tại
Việt Nam 1966-68). Về làm ban biên tập tờ The New York Times Magazine từ 1968 đến 1973,
sau đó phụ trách trang mục và viết chuyên luận. Từ 1980 ông trở thành phóng viên tự do và in
cuốn Violent Neighbor: El Sai-vador, Central America, and the United States năm 1984.
• Bernard B.Fall (11.11.1926-21.2.1967) Sinh tại Vienna, Áo. Phục vụ trong phong
trào Kháng chiến Pháp và Sư đoàn 4 miền núi Morocco trong Thế chiến 2; sau chiến tranh làm
điều tra viên tội ác chiến tranh và làm trong Tòa án Tội ác chiến tranh Nuremberg (l946-50)
rồi về làm quản lý cho tờ Stars and Stripes ở Nuremberg (1950-51). Học tại Đại học Paris và
Munich (1948-50), rồi học chương trình hải ngoại của Đại học Maryland, và Đại học Syracuse
và nhận bằng tiến sĩ tại đây năm 1955. Dạy tại các đại học Mỹ từ 1954, giảng về Châu Á học ở
Đại học Cornell, trợ giảng ở Đại học American, và giáo sư về bang giao quốc tế ở Howard
(1956-67). Nhận giải thưởng George Polk năm 1966. Tác giả của The Viet-minh Regime
(1954), Street Without Joy: Indochina at War, 1946-54 (1961), Two Viet-nams: A Political and
Military History (1963), Viet-nam Witness, 1953-66 (1966), Hell in a Very Small Place (1967),
và biên tập cuốn Ho Chi Minh on Revolution: Select Writtings 1920-1966 (1967). Bị chết vì
mìn. Những bài viết chưa xuất bản của ông được in sau khi ông mất trong Last Reflections on a
War (1967).
• Seymour M.Hersh (8.4.1937-) Ra đời tại Chicago, Illinois, học ở Đại học Chicago. Bắt
đầu sự nghiệp báo chí với nghề phóng viên tội phạm cho Phòng tin tức thành phố Chicago,
1959-60. Sau đó làm thông tín viên cho hãng UPI ở Piene, Nam Dakota, 1962-63; thông tín viên
cho hãng AP tại Chicago và Washington, 1963-67, và tại Lầu Năm Góc từ 1966. Rút khỏi hãng
AP năm 1967 sau khi một mẩu tin về chiến tranh vi trùng bị biên tập tan nát; rồi làm thư ký
báo chí một thời gian ngắn trong chiến dịch tranh cử sơ khởi của Eugene Mccarthy tại New
Hampshire. Đoạt giải Pulitzer 1970 với phóng sự về vụ thảm sát Mỹ Lai. Tác giả của Chemical
and Biological Warfare: America's Hidden Arsenal (1969), Mỹ Lai 4: A Report on the Massacre
and Its Aftermath (1970), The Price of power: Kissinger in the Nixon White House (1983), The
Target Is Destroyed. What Really Happened to Flight 007 (1986), The Sam son Option: Ismel
Nuclear Arsenal and America's Foreign Policy (1991), và The Dark Si de of Camelot (1998).
• Stanley Karnow (4.2.1925-) Sinh tại New York City. Phục vụ trong Không quân Mỹ ba
năm từ 1943; sau đó học tại Harvard, Sorbone, và Học viện Chính trị học của Pháp. Bắt đầu sự
nghiệp ở Paris trong vai trò thông tín viên cho tờ Time (1950-57); sau đó làm trưởng văn
phòng tập đoàn Time-life ở Bắc Phi (1958-59) và Hồng Công (1959-62), thông tín viên đặc
biệt cho tờ London Observer (1961-65) và Time (1962-63), và phóng viên nước ngoài cho tờ
The Saturday Evemng Post (1963-65). Vào ban biên tập của tờ The Washington Post năm
1965 với vai trò thông tín viên ở Trung Đông, tường thuật về Việt Nam, Đông Nam Á, và Trung
Quốc; là thông tín viên ngoại giao cho tờ Post năm 1971 và 1972. Làm thông tín viên cho hãng
NBC News từ 1973 đến 1975; đồng thời làm phụ tá biên tập cho The New Republic (1973-75),
giữ mục Kinh Features (1975-88), và phụ trách chuyên mục cho Newsweek (1977-81). Là
thông tín viên trưởng cho các loạt phim của hãng PBS Vietnam: A Television History (1983;
Việt Nam: Thiên sử truyền hình) và The US and the Philippines: In Our Image (1989). Những
sách của ông có Southeast Asia (1963), Mao and Chia: From Revolustion to Revolution (1972),
Vietnam: A History (1983), In Our Image: Amenca's Empore in the Philippines (1989, đoạt giải
Pulitzer về sách lịch sử), và Paris in the Fifties (1997).
• Robert Shaplen (22.3.1917-15.5.1988) Tên đầy đủ là Robert Modell Shaplen, sinh tại
Philadelphia; học tại Đại học Wisconsin (lấy bằng BA năm 1937). Sau khi nhận bằng thạc sĩ
báo chí ở Đại học Columbia (1938), ông làm phóng viên cho tờ Herald Tribune ở New York
(1937-43). Tường thuật về chiến tranh Thái Bình Dương cho tờ Newsweek, 1943-45; sau đó
về làm trưởng văn phòng Viễn đông cho tờ này (1946-47). Rời tờ Newsweek để làm thành viên
quỹ Nieman ở Harvard (1947-48), viết cho tờ Fortune (1948-50) và thông tín viên châu Á cho
tờ Collier's (1950-52). Gia nhập ban biên tập tờ The New Yorker năm 1952, và làm ở đây cho
đến khi mất, từ 1962 đến 1978 ông làm thông tín viên cho tờ này ở Viễn Đông. Các sách của
ông có A Corner of the World (1949), Free Loe and Heavenly Sinners: The Story of the Great
Henry Wrard Beecher Scandal (1954), A Forest of Tigers (tiểu thuyết, 1956), Kreuger: Gemus
and Swindler (1960), The Lost Revolution (1965), Time out of Hanh. Revolution and Reaction
in Southeast Asia (1969), The Road from War: Vietnam 1965-1970 (1970), A Tuming Wheel
(1979), và Bitter Victory (1986).
• Neil Sheehan (27.10.1936-) Tên thật là Comelius Mahoney Sheehan, sinh tại
Holyoke, Massachusetts, tốt nghiệp Đại học Harvard năm 1958. Làm trưởng văn phòng Saigon
cho hãng tin AP từ 1962 đến 1964. Về tờ The New York Times năm 1964, làm phóng viên tại
New York, thông tín viên hải ngoại ở Indonesia 1965) và Việt Nam (1965-69) và phóng viên
điều tra đặc biệt tại Washington (1969-72). Có vai trò quan trọng trong việc công bố Hồ sơ
Lầu Năm Góc. Mấy cuốn sách của ông là The Amheiter Affairs (1972), A Bright Shinmng Lie:
John Paul Vann and America in Vietnam (1988, đoạt giải Pulitzer và National Book), và After
the War Was Over: Hanoi and Saigon (1992).
• Peter Braestrup (8.6.1929-10.8.1997) Sinh tại New York City. Sau khi tốt nghiệp Đại
học Yale năm 1951, ông gia nhập TQLC Mỹ đóng tại Triều Tiên; giải ngũ năm 1953 sau khi bị
thương tại trận địa. Bắt đầu sự nghiệp báo chí khi gia nhập ban biên tập Time (1953-57). Sau
đó làm phóng viên cho tờ Hemld Tnbune ở New York, thông tín viên cho The New York Times
ở Angiers, Bangkok và Paris, phóng viên và trưởng văn phòng Saigon cho tờ The Washington
Post (1968-73). Sáng lập tờ Wilson Quanterly năm 1975và làm biên tập chính và giám đốc liên
lạc cho Thư viện Quốc Hội Mỹ (1989-97). Tác giả của Big Story: How the American Press and
Television Reported and Interpreted the Crisis of Tet in Vietnam and Washington (1977) và
Battle Lines: Report of the Twentieth Century Fund Task Force on the Militay and the Media
(1985). Ông qua đời tại Rockport, Maine.
LỜI GIỚI THIỆU
Ngày 30-4-1977, kỷ niệm hai năm ngày giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước,
Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân cho phát hành tập kí sự Tháng Ba ở Tây Nguyên của tôi vừa
viết xong. Tôi đưa cuốn sách đó tới tặng một ông anh họ, vốn là viên chức thời Pháp tạm chiếm
Hà Nội ở lại làm việc cho chính quyền cũ, thường chê văn của tôi là văn tuyên truyền, không đủ
để ông tin. Tôi nói: “Một nửa cuốn sách này là tư liệu tôi thu thập được từ bàn làm việc của
Nguyễn Văn Thiệu, trong các hồ sơ của Bộ Tổng tham mưu và quân khu II của chính quyền Sài
Gòn. Người thật việc thật cả chứ không phải văn hư cấu tuyên truyền đâu”. Ông anh tôi nhìn tôi
không nói gì rồi tủm tỉm cười: ”Việc quái gì tôi phải đọc sách của chú mới đủ tin. Quân ta
không tài giỏi, không mưu lược dễ gì mà đánh thắng thằng Mỹ phải cút, thằng nguỵ phải
nhào?”. Tôi cũng chỉ cười và chẳng cần nói gì thêm.
Nói thế, chứ sau 30 năm ngồi đọc lại những bài báo của những cây bút nổi tiếng trong
giới báo chí thông tấn của Mỹ vẫn cảm thấy thích thú, để được sống lại một thời đau thương và
anh dũng của nhân dân cả nước ta, nhất là của bà con, anh em ta ở mảnh đất anh hùng phía
Nam trong suốt 20 năm phải đối mặt từng ngày với kẻ thù. Các ký giả này vốn là những người
đã tin vào sức mạnh quân sự của Mỹ, và tin cả những mục tiêu chính trị của Mỹ khi tiến hành
cuộc chiến tranh ở mảnh đất này. Họ ủng hộ cái “sứ mạng thần thánh” của đội quân viễn chinh
Mỹ và cũng hy vọng miền Nam Việt Nam sẽ là một mẫu hàng trưng bày đủ sức thuyết phục của
Mỹ về tự do dân chủ, về ổn định và giàu sang theo kiểu Mỹ. Mỹ chẳng đã từng cứu cả một châu
Âu nghèo đói và một nước Nhật hoang tàn vì chiến tranh sau Thế chiến 2 đó sao? Hơn nữa tại
miền Nam Việt Nam, những người cộng sản đã không còn súng, không còn cả quân đội, đang là
người thắng mà thành người thua do cái trớ trêu của lịch sử, phải thi hành nghiêm chỉnh hiệp
Giơneo. Còn Mỹ thì có đủ mọi sức mạnh ở phần đất mới mẻ này, có thể tự do đuổi Pháp đi, tự
do đưa cố vấn vào, tự do huy động quân lính và hậu cần từ những nước vừa là con nợ vừa
muốn chạy theo cuộc chiến tranh của Mỹ để kiếm lời. Mỹ phải thắng là điều chắc chắn. Nên
lính Mỹ và các ký giả nổi tiếng đi theo đoàn quân viễn chinh vào cuộc chiến hết sức vô tư, có
thể cười cợt được, như một chuyến du lịch dài ngày không mất tiền. Nhưng nào có ai ngờ thoạt
đầu là một đội quân thơm tho và lịch thiệp của một nước rất văn minh, chỉ qua vài năm đối
mặt với những người kháng chiến vô hình lập tức trở thành những tên xâm lược đã mất hết
nhân tính, đốt nhà, giết những người già, phụ nữ và trẻ em, mặt mũi u sầu, mắt nhìn điên loạn,
bám chạy theo nhau từ năm này qua năm khác trong rừng già, trong bãi lầy, trong muôn vàn
cái chết mỗi bước chân đi, càng đánh càng u mê, càng tối tăm, như đã chìm sâu dưới chín tầng
địa ngục. Chả còn ai vô tư được nữa, những câu hỏi nghiêm chỉnh đã được đặt ra, người lính Mỹ
tự hỏi, và các nhà báo Mỹ cũng phải tự hỏi. Và họ đã dần dần tìm được những câu trả lời giản dị
và xác thực. Có một mẩu chuyện do ký giả Mỹ Neil Sheehan viết trên tờ The New York Times
năm 1966, khiến tôi đã nổi gai lên như nghe chuyện một vị thần. Neil viết, có một ông tướng
Mỹ đã nói với ông ta về một du kích VC, chỉ một người đã cầm chân cả một đại đội bộ binh Mỹ
suốt một tiếng trong khu rừng phía Bắc Sài Gòn. Anh ấy là người sống sót cuối cùng của một
nhóm người cố thủ trong một công sự chiến đấu. Anh đã bắn hết số đạn của mình, cả đạn của
đồng đội đã chết, ném trả lại những trái lựu đạn Mỹ đã thẩy vào công sự. Sau cùng anh ấy đã
lượm đá ném vào kẻ thù như một thách thức cuối cùng. Ông tướng than thở: “Nếu một trong
những người lính của chúng tôi chiến đấu được như thế…”.
Nước Mỹ đã từng có những người lính như thế trong Thế chiến 2, còn sau này… thì như
các ký giả Mỹ đã thuật cho chúng ta nghe trong các bài viết của họ, dầu đã thuộc về những năm
tháng xa xôi nhưng vẫn khiến mỗi chúng ta vừa đau thương vừa kiêu hãnh về nhiều thế hệ
người Việt Nam trong cả nước, ở mọi phía đã dám hy sinh tất cả cho nền độc lập và tự do của
Tổ quốc.
Nguyễn Khải
SỰ SỤP ĐỔ CỦA DÒNG HỌ NGÔ ĐÌNH
Stanley Karnow
The Sunday Eyening Post, 21-12-1963
Tại nhà thờ Thánh Francico Xavier xây từ thời Pháp trong Chợ Lớn, khu phố Tàu nhếch
nhác của Sài Gòn, buổi lễ ban sáng là dành cho ngày lễ Các linh hồn, ngày của những người đã
chết. Vài phút sau khi giáo dân đã ra về, hai người trong bộ đồ lớn xám đậm bước nhanh qua
khoảng sân rợp bóng cây và vào nhà thờ. Tổng thống Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam và
ông em Ngô Đình Nhu, cả hai đều mệt mỏi sau một đêm không ngủ, đã trở thành kẻ tị nạn ngay
chính tại thủ đô mà họ từng nắm quyền. Trong ngôi nhà thờ hẻo lánh này họ cầu nguyện và
rước lễ, và đó là lần nhập phép bí tích cuối cùng của họ. Chưa đầy một giờ sau thi thể đẫm máu,
co rúm của họ đã nằm tội nghiệp trên sàn một chiếc xe thiết giáp rầm rập chạy qua đường phố
Sài Gòn.
Thế là chấm dứt nền thống trị mong manh của gia đình họ Ngô-một chế độ quả đầu
ngoan cố, tự thị mà trong tám năm cầm quyền ở Nam Việt Nam, đã suy thoái từ chế độ gia
trưởng kém cỏi sang một nền chuyên chế hầu như là điên loạn. Và rồi nền chuyên chế mục nát
của Diệm đã sụp đổ một cách dễ dàng đến kinh ngạc.
Không lâu sau khi khói lửa binh biến tan đi, chỉ huy của nhóm tướng lãnh đảo chánh đã
mời tôi vào văn phòng rộng rãi đầy bản đồ của ông ta. Đại tướng Dương Văn Minh, được người
Mỹ ở Sài Gòn gọi là Big Minh, là một quân nhân to lớn, trông mạnh mẽ, với chiếc răng cửa sún
là dấu hiệu tự hào cho trò tra tấn của người Nhật mà ông ta đã chịu hồi Thế chiến 2. Ông ta là
một con người dịu dàng dễ gây hiểu lầm, và khi nói về vụ đảo chánh đã đưa ông ta lên nắm
quyền, rõ ràng có một vẻ phân trần trong giọng nói của ông ta.
Cho dù nhóm đảo chánh đối diện vấn đề gì trong tương lai-và sẽ toàn là vấn đề lớn-thì
vụ đảo chánh của họ cũng chỉ là một giải pháp thay thế cho chế độ Diệm. Vì thực tế, chính phủ
Diệm đã không làm được các chức năng của nó từ lâu trước khi sụp đổ. Là một quan lại khắc
kỷ, bảo thủ, Diệm không thể đối phó với hai mối nguy cùng một lúc là du kích Cộng sản và
chống đối trong nội bộ ngày càng tăng. Như một vị nhân vật trong bi kịch Shakespeare, ông ta
đã ngả theo những bản năng tồi tệ nhất. Ông ra đã rút khỏi thực tế và ngày càng giao nhiều
quyền hành hơn cho người em Nhu bệnh hoạn, đầy mưu mô, cùng bà vợ xinh đẹp, kiêu ngạo.
Trong tiến trình đó, ông ta dần dần rời xa quân đội, giới trí thức và đám đông quần chúng.
Đồng thời, ông ta xa cách với những người nước ngoài trợ giúp ông ta nhiều nhất. Quá
quan tâm đến hình ảnh của riêng mình, giáo hội Công giáo của Diệm đã cố tách ra khỏi một
chế độ mà một vị cao cấp trong hàng giảo phẩm của Vatican mô tả là “phản động và đầy tính
trung cổ”. Quan trọng hơn, qua việc thuận theo các chính sách áp thuế của Nhu, Diệm đã gây
hiềm khích với Mỹ, quốc gia đã bỏ tiền bạc và sinh mạng để cứu xứ sở của ông ta. “Chúng tôi
muốn thay đổi cách cai trị đất nước này”, một quan chức ngoại giao Mỹ hàng đầu ở Sài Gòn
nói. “Nếu những người nắm quyền không có khả năng tự thay đổi, thì chúng tôi ủng hộ sự thay
đổi những người nắm quyền đó… Chúng tôi chắc chắn tạo ra môi trường và não trạng có thể
thúc đẩy những người chống đối lật đổ ông ta”.
Diệm đã sống bên bờ vực kể từ tháng 11-1960 khi các tiểu đoàn nhảy dù thiện chiến
bao vây phủ tổng thống và sau đó đã ngây thơ để cho ông ta qua mặt bằng lời hứa sẽ cải cách.
Vào tháng 2-1962, hai phi công dùng máy bay chiến đấu tấn công phủ tổng thống khiến nó hư
hại nặng. Cuộc tấn công càng khiến ông ta nghi ngờ mọi người ngoại trừ gia đình và một nhóm
thân cận.
Không ở đâu mà sự nghi ngờ đầy bệnh hoạn của Diệm lại có ảnh hưởng tai hại cho bằng
sự nghi ngờ đối với quân đội, nơi mà các sĩ quan được đánh giá theo lòng trung thành hơn là
theo khả năng quân sự. Một nghi ngờ tưởng tượng về một ai đó là đủ để làm hoen sự nghiệp
của người đó. Ví dụ, một tướng lãnh từng góp sức cứu Diệm trong vụ đảo chánh 1960, sau đó
đã bị nghi ngờ vì ông ta đã đi qua trận tuyến của địch quá dễ dàng. Thường xuyên lo sợ các
tướng lãnh sẽ lật đổ mình, Diệm đã không cho họ cầm quân. Nhiều tướng lãnh kinh nghiệm
như Đại tướng Minh, quân nhân cao cấp nhất nước, đã bị biến thành phụ tá trong phủ tổng
thống hoặc nhận những vị trí tham mưu vô hại…
… Tuy nhiên, không có gì hủy hoại sâu xa tinh thần chiến đấu của quân đội Nam Việt
Nam bằng những biện pháp áp chế của Diệm đối với Phật giáo, lúc đó là cộng đồng tôn giáo
đông nhất nước. Suốt mùa hè, trong khi cuộc khủng hoảng Phật giáo đã phát triển thành một
phong trào chống đối chính trị rộng rãi đối với chế độ Diệm, một số sĩ quan được bố trí một
cách có chiến lược đã bắt đầu tổ chức một cuộc nổi loạn. Có những nhân vật kỳ lạ và không ai
ngờ trong số họ. Đại tá Đỗ Mậu, Cục trưởng An ninh quân đội chẳng hạn, bị Diệm nghi ngờ vì có
tình cảm thân Phật giáo đến nỗi ông ta cảm thấy buộc lòng phải tham gia âm mưu đảo chánh.
Trung tá Phạm Ngọc Thảo, người của Việt Minh, là một trong những người tin cẩn của Diệm,
đã miễn cưỡng theo phe chống đối, với niềm tin rằng chỉ làm cho chế độ này sụp đổ thì mới
cứu được đất nước.
Những người dụ mưu làm việc rất thận trọng. Đôi khi họ gặp nhau tại nhà riêng;
thường thì họ nói chuyện ở vùng nông thôn; đôi khi cuộc trao đổi lại xảy ra trong các hộp đêm
ồn ào của Sài Gòn. Tới đầu mùa thu, họ đã kiểm soát được một lực lượng mạnh gồm 2.500 lính
dù, TQLC, bộ binh và thiết giáp.
Tuy nhiên, trong khi những sĩ quan trẻ đang lập kế hoạch đảo chánh thì một nhóm
tướng lãnh có uy thế hơn, cầm đầu là Đại tướng Minh, cũng nghiên cứu những cách thức để lật
đổ chính phủ. Khi cả hai nhóm tìm cách giành vị trí tốt, các tướng lãnh cũng cho người về các
tỉnh để huy động các lực lượng có thể hữu dụng. Đến tháng 8, ngay đỉnh cao của cuộc khủng
hoảng Phật giáo, họ đề nghị với Diệm và Nhu rằng nên ban bố thiết quân luật và đưa một số
đơn vị quân đội vào Sài Gòn. Họ bí mật dàn xếp để ra lệnh cho các toán quân này nổi dậy.
Do liên tục nghi ngờ, Ngô Đình Nhu đã khôn ngoan bác bỏ kế hoạch này. Ông ta chấp
nhận ý kiến ban bố thiết quân luật của các tướng lãnh. Nhưng thay vì để họ điều quân lính ở
các tỉnh vào, ông ta đã giao quyền kiểm soát quân sự cho Tôn Thất Đính, một tướng lãnh tin
cẩn. Dưới sự chỉ huy chiến thuật của Đính, các lực lượng đặc nhiệm và cảnh sát chìm của Nhu
đã bố ráp các ngôi chùa trong thành phố ngày 21 tháng 8. Và sau đó, Đính coi mình là anh hùng
dân tộc. “Tôi đã đánh bại Henry Cabot Lodge”, ông ta tuyên bố. “Y sang đây để giật dây một vụ
đảo chánh, nhưng tôi, Tôn Thất Đính, đã hạ y và cứu đất nước”.
Một tuần sau những vụ bố ráp bạo lực vào các chùa, những người âm mưu bạo loạn tại
Việt Nam đã rất phấn khởi trước những dấu hiệu rõ rệt cho thấy người Mỹ không còn ưa được
chế độ Diệm. Tổng thống Kennedy nói rõ rằng ông ta không tán thành gia đình họ Ngô. Viện
trợ Mỹ cho Việt Nam bị cắt giảm, và Đại sứ Lodge nói thẳng với Diệm rằng ông Ngô Đình Nhu
nên rút lui. Và trưởng chi nhánh CIA tại Sài Gòn, John Richardson, người nằm trong nhóm công
tác Mỹ thân cận với Nhu nhất, cũng bị triệu hồi về nước.
… Tướng Đính lúc này tuyên bố ông ta vẫn trunh thành với Diệm trong hy vọng sửa đổi
được tổng thống. Nhưng nhiều người Việt am hiểu tình hình đất nước nhất định rằng Đín thực
ra ở lại với gia đình thống trị này để tham gia vào một âm mưu hoang đường nào đó do Ngô
Đình Nhu vạch ra. Mạng lưới dày đặc điệp viên đã cho ông ta biết về những cuộc nổi loạn manh
nha, và Nhu lập ra một kế hoạch để kết liễu mọi âm mưu như thế. Đó là cuộc đảo chánh giả mà
Nhu gọi là “Chiến dịch Bravo”. “Những vụ đảo chánh cũng giống như những quả trứng, nó phải
bị vỡ thì gà con mới chui ra được”, ông ta nói.
Vào một ngày đã định trước đầu tháng 11, theo kế hoạch, tư lệnh Lực lượng đặc biệt
vốn trung thành với Nhu, Đại tá Lê Quang Tung, sẽ tiến hành một cuộc nổi dậy ở Sài Gòn với sự
yểm trợ của những nhóm cảnh sát được tuyển chọn kỹ lưỡng. Diệm, Nhu và những nhân vật
chọn lọc trong phủ tổng thống sẽ chạy ra một điểm trú ẩn đã chuẩn bị sẵn ở Vũng Tàu, một
điểm nghỉ mát ven biển nằm ở phía đông thủ đô. Tướng Đính và những toán quân trung thành
sẽ đóng ở ngoại vi thủ đô. Bên trong Sài Gòn, bạo loạn sẽ lập tức nổ ra. Các băng nhóm tội
phạm sẽ cướp bóc và phá phách-nhất là những khu nhà của người Mỹ. Một số thủ lĩnh sinh
viên-nhất và phái Phật giáo sẽ có thể bị giết. Trong cơn hỗn loạn ấy, Đại tá Tung “nổi loạn” sẽ
thông báo thành lập một “Chính phủ cách mạng" bao gồm những nhân vật đối lập chính trị với
Diệm. Cha của bà Nhu, Trần Văn Chương, cựu đại sứ Việt Nam tại Washington nhưng hiện nay
là tay công khai chỉ trích chế độ Diệm, sẽ dược phong làm tổng thống của Chính phủ mới-mà
không có sự đồng ý của ông ta. Đài phát thanh Sài Gòn sẽ tung ra luận điệu chống Mỹ và chủ
trương trung lập đồng thời kêu gọi chấm dứt chiến tranh với Cộng sản.
Những trò này được dự trù kéo dài trong 24 giờ. Rồi, từ những vị trí quanh Sài Gòn, các
toán quân trung thành sẽ tiến vào thành phố và dễ dàng dẹp tan vụ nổi loạn. Diệm sẽ đắc thắng
trở lại thủ đô, lấy lại quyền cai trị hợp pháp của ông ta, và Nhu sẽ có một ngày để ra tay. Vì cú
đảo chánh giả sẽ “chứng tỏ” rằng:
—Những kẻ chống đối Diệm là bọn trung lập, chống Mỹ và thân Cộng. Do đó người Mỹ
đã từ bỏ mọi hy vọng về sự sụp đổ của ông ta.
—Những người chống đối chế độ Diệm không kiểm soát nổi những đám đông cướp phá
vốn nhằm vào người Mỹ. Chỉ có Diệm là có thể bảo đảm an ninh và trật tự.
—Quân đội thực sự ủng hộ Diệm, vì họ không theo phe cách mạng mà còn tấn công dập
tắt nổi loạn nữa.
Bên cạnh những luận điểm tuyên truyền quan trọng này, Nhu hy vọng rằng vụ “đảo
chánh giả” sẽ làm lộ mặt rất nhiều kẻ thù, khiến ông ta có thể nhận ra họ dễ dàng và thanh toán
họ trong tương lai.
Tuy nhiên, Nhu vừa mới vạch ra kế hoạch hoang đường của mình thì các chi tiết của nó
đã lọt tói tai nhiều người. Một số trong bọn họ coi vụ đảo chánh giả là một cơ hội: họ ủng hộ
việc tiến hành, rồi nhân đó làm thực. Một số khác không đồng ý vì cho rằng một chiến dịch
phức tạp như thế sẽ đưa đến rất nhiều rối loạn và đổ máu. Nhóm sĩ quan trẻ thì quyết định hạ
gục Nhu bằng cách đảo chánh thật trước. Ngày tiến hành được quyết định là Thứ Năm, 24
tháng 10.
Tuy nhiên, các tướng lãnh phản bác rằng bất kỳ hành động nào mà không có sự hợp tác
của tướng Đính và binh đoàn Sài Gòn của ông ta đều sẽ có nguy cơ thất bại. Không thể thuyết
phục các sĩ quan trẻ thay đổi kế hoạch, các tướng lãnh đành phá hỏng nó. Họ đưa các trung
đoàn chủ chốt vào một chiến dịch tấn công Cộng sản, và các sĩ quan trẻ không có cách nào khác
hơn việc tạm hoãn kế hoạch lại. Khi một trong những tay dự mưu trở về nhà ngày 24 tháng 10,
anh ta gặp một nhân viên CIA chờ sẵn để hỏi, “Sáng nay sao không tiến hành?”
Ngày 29 tháng 10 Đính đã nằm trong phe nổi dậy. Họ bèn giăng một cái bẫy cho Nhu
bằng cách cố tình cho ông ta nghe phong thanh về cuộc đảo chính. Tướng Đính phái một trong
các phụ tá đến bộ chỉ huy Sư đoàn 7 ở Mỹ Tho, cách Sài Gòn 60 km về phía tây nam. Viên phụ tá
này họp một nhóm sĩ quan của sư đoàn và tuyên bố rằng một cuộc đảo chánh đang được tiến
hành ở Sài Gòn. Ông ta nêu tên một số tướng tá dự mưu, cố tình tiết lộ rằng tướng Đính “không
có tham gia”. Đúng như Đính và những tướng dự mưu trông đợi, có một tay mật báo trong số
các sĩ quan sư đoàn ở Mỹ Tho. Chỉ trong vài giờ, Diệm và Nhu đã nghe tin về âm mưu đang
manh nha này. Hôm sau, tướng Đính được triệu vào phủ tổng thống và khuyến cáo rằng có một
trong những phụ tá của ông ta là kẻ phản bội. Là một diễn viên tuyệt vời, Đính làm một màn
trình diễn ngoạn mục. Khóc lóc và vung tay múa chân, ông ta thề sẽ cho kẻ phản bội đó chết.
Nhưng việc xem xét một chuyện đơn giản như vậy lại ngoài tầm hiểu biết của Nhu.
Thay vào đó, ông ta lại đề nghị Đính thâm nhập hàng ngũ dự mưu và biến nó thành một vụ
phản đảo chánh nhằm vào nhóm dự mưu. Hơn nữa, ông ta còn ra lệnh cho Đính chuẩn bị hành
động vào ngày 1 tháng 11-ngày lễ Các thánh-khi moi công sở Sài Gòn sẽ đóng cửa, đường phố
sẽ vắng vẻ và việc di chuyển quân đội sẽ dễ dàng hơn. Với điệu bộ của một tay âm mưu bậc
thầy, Nhu thông báo rằng kế hoạch này sẽ thay thế cho kế hoạch trước đó của ông ta. Vẫn
không đổi, Nhu gọi kế hoạch mới này là “Chiến dịch Bravo II”.
Vấn đề trước hết của tướng Đính là kéo bốn đại đội Lực lượng đặc biệt trung thành với
Diệm ra khỏi thủ đô. Ông ta lý giải với Đại tá Lê Quang Tung, tư lệnh Lực lượng đặc biệt, rằng
phải đưa những toán quân mới vào Sài Gòn cho Chiến dịch Bravo II. “Nhưng nếu chúng ta đưa
quân dự bị vào thành phố”, Đính nói tiếp, “người Mỹ sẽ bực bội. Họ sẽ phàn nàn rằng chúng ta
không lo chiến đấu với Cộng sản. Nên ta phải nguỵ trang cho kế hoạch bằng cách đưa Lực
lượng đặc biệt về nông thôn. Như thế sẽ gạt được họ”.
Hôm sau, với sự đồng ý của Diệm, Lực lượng đặc biệt rời Sài Gòn. Như thế một trở ngại
lớn cho cuộc đảo chánh đã được tháo gỡ. Bây giờ công việc của Đính là triển khai quân của
mình để đảo chánh.
Trong khi Diệm và Nhu tưởng rằng ông ta đang chuẩn bị cho kế hoạch, Đính mau chóng
điều quân vào và ra Sài Gòn. Ngày đã định là 1 tháng 11; giờ đã định là 1 giờ 30 trưa. Suốt đêm
hôm trước và sáng hôm sau, các binh đoàn nổi loạn tức tốc chiếm các vị trí. Hai tiểu đoàn
TQLC có thiết giáp đi kèm đã sẵn sàng tấn công đài phát thanh và bộ tư lệnh cảnh sát. Một tiểu
đoàn dù, trú đóng tại một điểm nghỉ mát ven biển cách Sài Gòn hơn 100 km, được lệnh ráp nối
với các đơn vị phục vụ và thiết giáp và tiến vào thành phố để tấn công các trại vệ binh tổng
thống phủ. Bộ binh từ phía tây bắc và tây nam cũng được triệu tập.
Khi các cánh quân đã tụ về Sài Gòn, chỉ có những sĩ quan cao cấp mới biết mục đích của
cuộc hành quân. “Tôi nói với trước các đại đội trưởng chuyện chúng tôi sắp làm”, một đại tá
TQLC sau này kể lại, “nhưng tôi không nói thật với cấp trung đội trưởng. Tôi chỉ nói rằng cảnh
sát đang mưu lật đổ Diệm và chúng ta vào cứu tổng thống”. Một trung uý nhảy dù nói: “Khi
chúng tôi lên đường, tôi đã đoán đây là đảo chánh nhưng không biết chắc. Chúng tôi đến một
điểm chỉ huy ở ngoại ô, và một số đại tá nói rằng mục tiêu là các trại vệ binh tổng thống phủ.
'Ai bạn ai thù?' tôi hỏi, va ông ta đáp, 'Ai chống lại chúng ta là thù'”.
Đến giữa buổi sáng 1 tháng 11, toàn bộ khu vực quanh Sài Gòn đầy những di chuyển
lặng lẽ, và không biết chính xác chuyện gì đang xảy ra. Khoảng 9 giờ sáng gì đó, chỉ huy Hải
quân trung thành với Diệm, Đại uý Hồ Tấn Quyền, có hai thuộc hạ tới chúc mừng sinh nhật.
Nhưng sau đó họ đề nghị ông tham gia đảo chánh, và khi ông ta từ chối, họ đã áp tải ông ta ra
ngoại ô và bắn chết.
Các cố vấn quân sự Mỹ sống chung với quân lính Nam Việt Nam và những cố vấn làm
việc với ban tham mưu của tướng Đính biết rõ giờ giấc bùng nổ của cuộc đảo chánh. Họ báo tin
này về cho bộ chỉ huy của họ, nhưng tư lệnh quân đội Mỹ, Đại tướng Paul Harkins, rõ ràng
không tin điều này. Tuy nhiên, Đại sứ Cabot Lodge có vẻ ít hồ nghi hơn. Lúc 10 giờ sáng, ông ta
nhân cuộc viếng thăm Đề đốc Harry Felt, tổng tư lệnh các lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương, để
gặp Diệm trong một giờ. Đó là lần chạm trán kỳ cục. Cả Diệm và Lodge đều biết một biến cố lớn
đang manh nha, và họ nói chuyện quanh “những tin đồn” về một cuộc đảo chánh. Nhưng nếu
như Lodge chờ đợi một chyện xảy ra thực, thì Diệm trông vào Chiến dịch Bravo II, cú phản đảo
chán phức tạp của ông Nhu.
Khi các đơn vị nổi dậy tiến vào vị trí tấn công, các tướng lãnh dự mưu lại dàn xếp một
kế hoạch tinh quái khác. Thứ Sáu là ngày họ vẫn hàng tuần ăn trưa với nhau để bàn bạc các vấn
đề quân sự. Tại một phòng ăn ở Bộ Tổng tham mưu, họ đặt thêm ghế quanh bàn và mời mấy vị
khách đặc biệt, như Đại tá Tư lệnh Lực lượng đặc biệt Lê Quang Tung và những sĩ quan khác
trung thành với Diệm.
Lúc 1 giờ 30 cuộc đảo chánh bùng nổ, dẫn đầu cuộc tấn công, hai tiểu đoàn TQLC tiến
nhanh vào thành phố. Họ mau chóng chiếm đài phát thanh và các đồn cảnh sát, và một sĩ quan
phe nổi dậy lên đài thông báo rằng cuộc đảo chánh đã xảy ra. Trong khi đó, tại bữa ăn trưa, các
tướng lãnh thông báo cho các sĩ quan có mặt rằng đảo chánh đã bắt đầu và mời họ cùng tham
gia. Hầu như mọi người đều đồng ý. Đại tá Tung trung thành với Diệm thẳng thừng từ chối. Khi
bị dẫn ra để xử tử, ông ta gào lên với các tướng lãnh, “Hãy nhớ ai đã gắn sao trên cổ áo cho tụi
bay”.
Tại phủ tổng thống Diệm và Nhu ban đầy nghĩ rằng cú phản đảo chánh của họ đã bắt
đầu. Họ hàon toàn tin tưởng rằng tướng Đính vẫn trung thành với mình và như tính toán, ông
ta sẽ bắt hết các tay chủ mưu và kiểm soát tình hình. Ví dụ, ngay sau khi tiếng súng nổ ra một
viên chức cảnh sát đã điện thoại cho Nhu và hốt hoảng kêu rằng bộ chỉ huy của anh ta bị tấn
công. “Không sao đâu”, Nhu trấn an anh ta: “Tôi biết hết rồi”.
Tuy nhiên, khi thời gian trôi qua, Diệm và ông em bắt đầu cảm thấy có điều bất thường.
Họ nhận được những cú điện thoại của các tướng đảo chánh yêu cầu họ đầu hàng, và họ đã từ
chối. Nhưng sau nhiều lần cố liên lạc với tướng Đính để hỏi chừng nào mới bắt đầu vụ phản
đảo chánh. Mỗi lần như thế họ chỉ có thất vọng. Đính không có mặt ở văn phòng, mà đang ở Bộ
Tổng tham mưu. “Đính chắc đã bị bắt”, Diệm nghe nói như thế, mà vẫn không tưởng tượng
được rằng ông tướng đó đã phản bội mình.
Lúc quá 4 giờ chiều pháo binh phe đảo chánh bắn vào các trại vệ binh phủ tổng thống,
và Diệm biết rằng mình gặp nguy biến. Ông ta điện thoại cho Đại sứ Lodge để báo rằng quân
đội đã nổi loạn. Bình thản xác nhận rằng mình có nghe tiếng súng nổ, Lodge bày tỏ lo ngại cho
sự an nguy của Diệm và nhắc ông ta nhớ rằng các tướng đảo chánh đã đề nghị cho ông ta được
ra nước ngoài bình yên. “Tôi sẽ phục hồi trật tự”, Diệm nạt lại. Lodge đáp: “Nếu tôi có thể làm
gì để đảm bảo an toàn cá nhân cho ông thì cứ cho tôi hay”.
Nhớ lại vụ vây hãm năm 1960 khi ông ta kiên quyết biến một trận thua chắc chắn thành
thắng lợi, Diệm cứ ngoan cố không thay đổi. Qua một máy phát thanh đặc biệt trong phủ tổng
thống, ông ta phát đi lời kêu gọi yêu cầu tư lệnh tiểu khu ở các tỉnh cứu viện. Không một ai trả
lời. Chỉ cách phủ tổng thống vài dãy phố, các vệ binh của Diệm bị vây hãm, và chính phủ tổng
thống cũng bị binh lính cùng thiết giáp bao vây.
Diệm đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho đủ kiểu tấn công. Ví dụ, bên dưới phủ tổng thống, gần
đây ông ta đã cho xây một hầm trú ẩn tránh bom trị giá đến 200.000 đôla. Ông ta đã xây ba
đường hầm dẫn ra khỏi phủ, và ông ta có nhiều kế hoạch rút lui.
Khoảng 8 giờ tối, khi phủ đã bị bao vây, Diệm và Nhu theo đường hầm đi ra một khu
vực lót gỗ trong Cercle Sportif, câu lạc bộ thể thao của Sài Gòn (nay là Cung văn hoá Lao động
TP.HCM). Họ chẳng mang theo gì ngoài một cái cặp nhỏ chứa đầy đôla Mỹ. Ở cửa đường hầm,
một nhóm thủ hạ đã chờ sẵn để đưa họ tới nhà một thương gia người Hoa, Mã Tuyên. Ngôi nhà
này có đường dây điện thoại trực tiếp với phủ tổng thống. Không lực lượng t...
 





