Dạy bé các phương tiện giao thông | Vạn điều hay cho bé
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:52' 07-04-2024
Dung lượng: 2.6 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:52' 07-04-2024
Dung lượng: 2.6 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Những bí mật về chiến tranh Việt
Nam
Daniel Ellsberg
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lời giới thiệu
Lời nói đầu
Giai đoạn mở đầu: Việt Nam 1961
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
https://thuviensach.vn
Chương 25
Chương 26
Chương 27
Chương 28
Chương 29
Chương 30
Chương 31
Chương 32 ( Hết )
https://thuviensach.vn
Daniel Ellsberg
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam
Dịch giả: Tĩnh Hà - Kiều Oanh
Lời giới thiệu
https://thuviensach.vn
Năm 1971, Daniel Ellsberg, sĩ quan Lầu Năm Góc từng tham chiến ở Việt
Nam, đã cho công bố 7.000 trang tài liệu tối mật cho báo chí, tạo nên một
làn sóng phản đối chiến tranh Việt Nam mạnh mẽ chưa từng có tại Mỹ.
Nhận bằng tiến sĩ Kinh tế Đại học Harvard năm 1962, nhưng số phận lại
đưa ông đến làm việc ở Bộ Quốc phòng và sau đó ông được phái sang
chiến trường Việt Nam.
Sau hơn 3 năm ở Việt Nam, làm việc cho cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng và Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, năm 1967, Daniel trở về Mỹ, ông
được phân vào nhóm nghiên cứu tối mật về hoạch định chính sách đối với
Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng McNamara. Tại đây, ông đã được
trực tiếp tiếp xúc với các tài liệu mật của Nhà Trắng và biết rõ kế hoạch
muốn leo thang chiến tranh Việt Nam của Tổng thống, mặc dù bề ngoài
Nixon và bộ sậu của ông ta ra sức nói dối để bao che cho hành động leo
thang và kéo dài cuộc chiến của mình.
Là một người yêu chuộng hoà bình và đã từng có thời gian tham chiến tại
Việt Nam, hiểu rõ bản chất phi nghĩa của cuộc chiến, Dan đã đánh cược cả
cuộc đời mình, sao chụp 7.000 trang tài liệu của Hồ sơ Lầu Năm Góc. Ông
bắt đầu công việc này từ năm 1969 và đến năm 1971, ông đã đi đến quyết
định làm chấn động nước Mỹ, công bố toàn bộ tài liệu trên tờ Thời báo
New York. Dan đã từng nói: Lẽ ra, nếu tôi có thể đưa các tài liệu đó ra từ
khi tôi mới vào làm việc tại Lầu Năm Góc và Nhà Trắng, vào năm 19641965, thì có thể những tài liệu đó đã góp phần ngăn chặn cuộc chiến".
https://thuviensach.vn
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam - Hồi ức về Việt Nam và Hồ sơ Lầu
Năm Góc (Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon papers) là cuốn
hồi ký của Daniel, xuất bản năm 2002, đã trở thành cuốn sách bán chạy
nhất, gây xôn xao nước Mỹ. Cuốn sách kể lại cuộc hành trình đi tìm sự thật
của Dan và phanh phui những âm mưu dối trá của Tổng thống Nixon và
Lầu Năm Góc về cuộc chiến tranh Việt Nam, bắt đầu từ Sự kiện Vịnh Bắc
Bộ, (tháng tám năm 1964).
Tháng Ba năm 2006, Daniel trở lại thăm Việt Nam, và được trao Kỷ niệm
chương "Vì hoà bình hữu nghị giữa các dân tộc", tôn vinh những cống hiến
không mệt mỏi của ông đã góp phần thức tỉnh dư luận về cuộc đấu tranh
chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ông đã cho phép Nhà xuất bản Công
an nhân dân dịch và xuất bản cuốn hồi ký của mình.
Sau một thời gian làm việc, cuốn sách đã đến tay bạn đọc.
Hy vọng cuốn sách sẽ giúp bạn đọc có một góc nhìn đa diện hơn về cuộc
chiến và qua đó thấy rõ tâm lòng của một người ở phía bên kia chiến tuyến
đối với đất nước nhỏ bé này.
Nhà xuất bản Công an nhân dân xin trân trọng giới thiệu.
NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN
https://thuviensach.vn
Daniel Ellsberg
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam
Dịch giả: Tĩnh Hà - Kiều Oanh
Lời nói đầu
https://thuviensach.vn
Tối ngày 1 tháng mười năm 1969, tôi rảo bước nhanh qua phòng bảo vệ
của Công ty Rand(*) ở Santa Monica, tay xách một vali chứa đầy tài liệu
tối mật mà tôi dư tính sẽ sao chụp trong đêm hôm đó. Số tài liệu này là một
phần trong công trình nghiên cứu tối mật gồm 7.000 trang liên quan tới các
quyết định của Mỹ ở Việt Nam, sau này được biết đến dưới tên gọi quen
thuộc là Hồ sơ Lầu Năm Góc. Phần còn lại nằm trong két đựng tài liệu ở
văn phòng của tôi.
Tôi quyết định sao chụp toàn bộ và đưa ra công chúng bộ hồ sơ này, hoặc là
thông qua các cuộc điều trần tại Thượng viện hoặc là qua báo chí nếu tôi
thấy điều đó là cần thiết. Tôi tin rằng tôi có thể sẽ phải ngồi tù suốt đời vì
việc làm này. Cuốn hồi ký này sẽ tập trung mô tả quá trình hành động công
bố tài liệu của tôi.
Trong 11 năm, từ giữa năm 1969 đến khi kết thúc cuộc chiến tranh vào
tháng Năm năm 1975, tôi cũng như rất nhiều người Mỹ khác đặc biệt quan
tâm tới sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Vào thời gian đó, thoạt tiên tôi
nghĩ đó chỉ là một vấn đề, tiếp đến là một sự bế tắc, nhưng rồi sau đó là
một thảm hoạ về đạo đức và chính trị và cuối cùng trở thành một tội ác. Ba
phần đầu của cuốn sách tương ứng với ba giai đoạn phát triển về nhận thức
của tôi.
Những sai phạm và hành động sau đó của tôi đã phản ánh quá trình thay
đổi nhận thức đó. Khi nhận thức cuộc xung đột chỉ là một vấn đề tôi đã cố
gắng góp sức để giải quyết nó, khi nhận ra sự bế tắc, chúng ta (Nước Mỹ ND) đã cố gắng tư giải thoát mà không gây phương hại tới lợi ích của quốc
https://thuviensach.vn
gia khác, và tôi đã nỗ vạch trần và chống lại cuộc chiến khi ý thức mách
bảo nó đã trở thành một tội ác với hy vọng chấm dứt nó càng sớm càng tốt.
Qua quá trình nhận thức trên, tôi đã vận dụng nhiều cách khác nhau nhằm
tránh khả năng chiến tranh leo thang lên cao hơn. Nhưng gần đến giữa năm
1973, khi tôi phải ra trước Toà án liên bang vì nhũng hành động của tôi vào
cuối năm 1969, tôi đã nói không ai, kể cả tôi, thành công trong mục đích và
cố gắng của mình. Những nỗ lực nhằm chấm dứt cuộc xung đột - cho dù nó
được nhìn nhận như là một cuộc kiểm nghiệm bị thất bại, một vũng lầy hay
một sai phạm về mặt đạo lý - dường như cũng chẳng thấm vào đâu so với
những cố gắng để chiến thắng trong cuộc xung đột đó. Vì sao?
Như sau này tôi nhận thấy, chỉ cần chống thôi chưa đủ, chúng ta còn cần
phải hiểu về chiến tranh. Ba mươi năm sau tôi vẫn tin điều đó là sự thật.
Cuốn sách này thể hiện nỗ lực cho đến tận ngày hôm nay của tôi - những
nỗ lực còn xa mới hoàn tất - trong việc giúp các bạn hiểu về cuộc chiến
tranh của đất nước chúng ta ở Việt Nam, và bản thân tôi là một phần của
cuộc chiến đó và tại sao cuộc chiến tranh đó cũng như những nỗ lực của tôi
lại kéo dài đến như vậy.
Trong thời gian ba năm bắt đầu từ giữa năm 1964 - với ngạch bậc dân sự
cao nhất, tôi đã giúp chính quyền theo đuổi một cuộc chiến tranh mà tôi tin
ngay từ khi bắt đầu là nó sẽ bị thất bại. Làm việc tại Washington bên cạnh
những nhà hoạch định chính sách tối cao trong những năm 1964-1965, tôi
đã chứng kiến họ bí mật đẩy đất nước này vào một cuộc chiến tranh qui mô
lớn mà không hề có lấy một khả năng thành công. Sự bi quan của tôi trong
những năm đó không thay đổi, và trong vòng khoảng một năm - từ mùa
Xuân năm 1965 tới mùa Xuân năm 1966 - tôi đã kỳ vọng và làm hết sức để
trông chờ một sự thắng lợi nào đó. Sự kỳ vọng đó đặt vào vị tổng thống,
người mà bất chấp nhiều mối nghi ngại, vẫn đẩy chúng ta lún sâu vào vũng
lầy của cuộc chiến. Khi nước Mỹ đã dính líu toàn diện vào cuộc chiến
tranh, vào giữa năm 1965 tôi tình nguyện tới phục vụ ở Việt Nam như một
https://thuviensach.vn
nhân viên của Bộ Ngoại giao. Công việc của tôi là đánh giá tình hình "bình
định" ở vùng nông thôn. Thời gian này, tôi đã sử dụng vốn kiến thức của
một sĩ quan chỉ huy pháo binh của lực lượng lính thuỷ đánh bộ, để quan sát
cuộc chiến tranh một cách toàn diện. Trước đây câu hỏi liệu chúng ta có
một quyền gì đó, bất kể quyền gì cao hơn người Pháp tới chúng ta, để theo
đuổi cuộc chiến bằng lửa đạn và sắt thép ở Đông Dương, những mục tiêu
mà các nhà lãnh đạo của chúng ta đã lựa chọn, chưa bao giờ khiến tôi phải
bận tâm. Trong hai năm ở Việt Nam, ấn tượng về những người dân và hoàn
cảnh của họ đã trở nên chân thực với tôi hơn, chân thực như những binh
lính Mỹ mà tôi cùng hành quân, như chính đôi bàn tay của tôi, mà trong
một khía cạnh nào đó, đã khiến việc tiếp tục theo đuổi cuộc chiến vô vọng
đó trở nên không thể tha thứ được.
Bị loại khỏi chiến trường vì bệnh viêm gan và quay trở lại Mỹ từ giữa năm
1967 tôi bắt đầu làm tất cả những gì có thể để giúp đất nước tôi thoát khỏi
cuộc chiến tranh. Trong hai năm tôi làm việc này với danh nghĩa là người
trong cuộc phỏng vấn trực tiếp các quan chức cao cấp, cố vấn cho các ứng
cử viên tổng thống và cuối cùng, vào đầu năm 1969, làm trợ lý Cố vấn An
ninh quốc gia của Tổng thống. Nhưng cùng trong năm đó, tôi nhận ra mình
đã phá vỡ kế hoạch đề ra ban đầu nên quyết định chấm dứt sự nghiệp công
bộc cho chính phủ.
Một trong những việc làm trên đe doạ xâm hại quyền tụ do của tôi. Năm
1969 và 1970, với sự giúp đỡ của người bạn tên là Anthony Russo - một
cựu thành viên của Công ty Rand, tôi bí mật sao chụp toàn bộ 47 tập Hồ sơ
Lầu Năm Góc, một văn kiện nghiên cứu tối mật về các quyết định của Mỹ
ở Việt Nam từ 1945 đến 1968, làm sở hữu riêng của mình và trao chúng
cho Thượng nghị sỹ William Fulbright, Chủ tịch Uỷ ban đối ngoại Thượng
viện. Năm 1971, tôi cũng đã trao những bản sao cho tờ Thời báo New York
và tờ Bưu điện Washington và cuối cùng, bất chấp tới bốn lệnh cấm của liên
https://thuviensach.vn
bang, một điều chưa có tiền lệ, cho 17 tờ báo khác mà sau đó đã đem công
bô nội dung tài liệu của tôi.
Tôi đã không sai khi nhận định về những mối nguy hiểm đối với cá nhân
tôi. Ngay sau đó, tôi bị buộc phải ra trước toà án liên bang, tiếp theo là
Russo. Tổng cộng, tôi bị quy tới 12 tội và có thể phải chịu tới 115 năm tù
với một vài lần hầu toà nữa. Nhưng tôi cũng không sai khi hy vọng rằng
vạch trần những bí mật và những điều dối trá của 5 vị tổng thống có thể
làm lợi cho nền dân chủ của chúng ta và đó là cái giá xứng đáng cho sự
mạo hiểm của mình. Sự thật được tiết lộ sẽ là động lực để thúc đẩy việc
đưa ra công luận hàng loạt vấn đề, bao gồm cả những việc làm xấu xa của
Nhà Trắng hòng làm mất uy tín của tôi cũng như bắt tôi phải im miệng.
Đương nhiên là nếu tôi khuất phục thì họ sẽ bãi bỏ những cáo buộc chống
lại tôi và bạn bè của tôi. Nhưng điều quan trọng hơn nhiều là chính những
tội ác của Phòng Bầu Dục đã góp phần lật đổ Tổng thống, một bước hết sức
cần thiết trước khi đi đến kết thúc chiến tranh.
Đây là câu chuyện về sự thay đổi lớn nhất trong đời tôi, nó bắt đầu kể từ
khi tôi từ Việt Nam trở về. Sự tan vỡ của nhũng niềm hy vọng mỏng manh
mà tôi có. Ở Việt Nam, sự hoài nghi về cuộc chiến tranh đã theo tôi về Mỹ
từ giữa năm 1967 không còn xa lạ gì với tôi nữa. Trái lại, nó khiến tôi bi
quan trở lại như trong chuyện đi đầu tiên tới Việt Nam năm 1961 và nó lại
được nhân lên trong năm đầu tiên tôi làm cho Lầu Năm Góc từ giữa năm
1964. Năm 1967, tâm lý hoài nghi này lan rộng trong chính phủ. Dư luận
bên ngoài thậm chí có lẽ còn hoài nghi hơn nữa. Đây chính là thời điểm mà
mong muốn chứng kiến cuộc chiến tranh kết thúc của tôi cũng không khác
với hầu hết các đồng nghiệp trong chính phủ hoặc trong các cơ sở nghiên
cứu do chính phủ tài trơ, dù họ đã hoặc chưa tùng phục vụ ở Việt Nam. Cả
một thế hệ sinh ra trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam cũng đều trở nên vỡ
mộng như tôi về một cuộc chiến tranh mà họ thấy ở đó sự vô vọng và vô
tận.
https://thuviensach.vn
Tôi cũng từng có chung quan niệm như họ về những giá trị và đặc tính của
nước Mỹ, tham gia tích cực vào Chiến tranh lạnh, vào việc chống chủ nghĩa
cộng sản, vào việc giữ bí mật, và vào việc ủng hộ chiếc ghế tổng thống.
Đến năm 1968, nếu không nói là sớm hơn, tất cả họ, cũng như tôi đều
muốn thấy nước Mỹ cần phải thoát ra khỏi cuộc chiến tranh này. Mong
muốn này thúc đẩy tôi tìm hiểu câu hỏi. Tại sao chiến tranh lại có thể xảy
ra trong những hoàn cảnh như vậy, nhất là sau sự ám ảnh ghê gớm của cuộc
Tổng tiến công Tết Mậu Thân hồi đầu năm 1968 mà cuộc chiến vẫn có thể
kéo dài tới bảy năm nữa?
Nội dung chính của cuốn hồi ký này kể một câu chuyện với phần mở đầu là
sự chỉ trích của những nhân vật trong chính phủ về chính chính sách của
chúng ta, đến chỗ cuối cùng tôi đã vượt lên trên cả những nỗ lực chấm dứt
chiến tranh từ vị trí trong ngành hành pháp, sẵn sàng từ bỏ những đặc
quyền và mối quan hệ chính trị, cơ hội phục vụ các tổng thống tương lai,
toàn bộ sự nghiệp của tôi để thay bằng việc chấp nhận viễn cảnh của một
cuộc sống ở chốn lao tù. Cuốn sách tập trung vào những điều mà kinh
nghiệm cuộc sống đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện công việc của mình
suốt từ năm 1969 đến năm 1972, nhũng điều tôi đang mong muốn tôi (hoặc
nhũng người khác) đã làm trong năm 1964 hoặc 1965 đó là: đưa những tài
liệu này ra Quốc hội và báo chí để nói ra sự thật.
Thật dễ để nói rằng ý tưởng phanh phui sự thật đơn giản đã không đến với
tôi và cũng như bất kỳ ai vào thời điểm đó. Vấn đề còn lại là tại sao điều đó
lại không xảy ra? Cũng giống như nhiều người, tôi hoàn toàn tin tưởng vào
vị tổng thống của mình (và đối với nghề nghiệp của tôi, những dữ liệu
thông tin nội bộ và ảnh hưởng của nó, dù sao chăng nữa, tôi cũng đã lý
tưởng hoá mục đích của mình) trên tất cả mọi thứ khác, trên lòng trung
thành với Hiến pháp, trách nhiệm với sự thật, với những người bạn Mỹ và
với những cuộc sống của những người khác. Đây là một câu chuyện đối
https://thuviensach.vn
diện với sự thật, mà vì nó, tôi luôn biết ơn, của những thanh niên Mỹ đã lựa
chọn thà vào tù còn hơn là tham gia vào một cuộc chiến mà họ biết là sai
lầm, đã thức tỉnh tôi trước những sự trung thành cao cả này.
Tôi hy vọng, thông qua cuốn hồi ký, đưa ra những bài học cho các quan
chức tương lai trong những hoàn cảnh tương tự và cho tất cả mọi người
dân, những người sẽ theo dõi trách nhiệm của chính phủ trong quá trình
thực thi nhiệm vụ. Tôi sẽ nêu một bài học thú vị hơn (như mô tả trong Phần
IV)l vào thời điểm chuẩn bị kết thúc phiên toà và sau đó, là việc nói ra sự
thật, vạch trần những bí mật sai trái được che đậy, có thể đem lại một sức
mạnh bất ngờ chưa từng thấy, nó giúp chấm dứt một sai lầm và cứu được
những mạng sống.
Chú thích:
(*)
Rand là công ty nghiên cứu chiến lược thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ, viết
tắt của cụm từ tiếng Anh "Research and Development", nghĩa là "Nghiên
cứu và Phát triển" - ND
https://thuviensach.vn
Daniel Ellsberg
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam
Dịch giả: Tĩnh Hà - Kiều Oanh
Giai đoạn mở đầu: Việt Nam 1961
Mùa thu năm 1961, không phải mất nhiều thời gian để khám phá ra rằng
chúng ta hầu như không thể giành được thắng lợi ở Việt Nam. Tôi chỉ mất
gần một tuần trong chuyện thăm đầu tiên để hiểu ra điều đó. Với việc tiếp
cận đúng nguồn thông tin, nói chuyện với đúng đối tượng dân chúng, bạn
có thể nhanh chóng có được một cái nhìn xác thực. Bạn không phải nói
tiếng Việt Nam, cũng không cần phải biết lịch sử, triết học hay văn hoá
châu Á mới có thể biết được rằng mọi việc chúng ta đang cố gắng làm đều
chẳng đem lại kết quả tốt đẹp gì hơn. Tôi đã đọc đâu đó rằng bạn không
cần phải là một nhà ngư học mới biết được khi nào thì một con cá bị chết
thối.
Tôi là thành viên cấp cao của một lực lượng đặc nhiệm thuộc Lầu Năm
Góc, tới thăm Đoàn Cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) ở Việt Nam với
một giấy phép có thể "đi bất cứ đâu, xem bất cứ cái gì". Trưởng đoàn cố
vấn viện trợ quân sự Mỹ, tướng Lionel McGan, đã yêu cầu các thành viên
tham mưu của ông ta giúp chúng tôi bằng mọi cách để chúng tôi có thể nói
một cách thẳng thắn. Đặc biệt, có một viên đại tá, người mà tôi đã nói
chuyện vào thời gian gần cuối nhiệm kỳ của ông ta ở Việt Nam, đã có ý
định chuyển giao lại những gì ông ta thu thập được ở đất nước này cho một
người nào đó mà người đó có thể nói được với công chúng ở Washington.
Ông đã cho tôi xem các hồ sơ của Đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ và kéo
ra hàng đống những cặp tài liệu, và tôi đã thức trắng mấy đêm để đọc, phân
loại các kế hoạch, báo cáo và các bản phân tích những chương trình của
chúng ta và triển vọng của nó ở Việt Nam.
Mùi mốc của tài liệu rách nát hiện hữu ở mọi chỗ, và ông bạn đại tá của tôi
https://thuviensach.vn
cũng chẳng có một cố gắng nào để làm thay đổi tình trạng này.
Ông ta nói với tôi rằng dưới sự trị vì của Tổng thống Ngô Đình Diệm, một
nhà lãnh đạo độc tài mà chúng ta đã lựa chọn cho miền Nam Việt Nam
trước bảy năm, thì cuối cùng trong vòng một hoặc hai năm, Cộng sản gần
như chắc chắn sẽ lên nắm quyền.
Nếu Diệm, người đã rất thành công trong năm trước đó bị phế truất trong
một cuộc đảo chính, thì Cộng sản thậm chí còn giành thắng lợi nhanh hơn.
Hầu hết các sĩ quan của Đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ đều đồng ý với
ông ta và với nhiều quan chức người Việt Nam rằng điều duy nhất có thể
làm thay đổi triển vọng này trong thời gian ngắn là các lực lượng chiến đấu
người Mỹ với qui mô lớn. (Hiệp định Geneva năm 1954 chỉ cho phép 350
cố vấn quân sự của Mỹ có mặt tại Việt Nam, cho dù bằng nhiều mưu mẹo
khác nhau Mỹ đã cho tới hơn 700 cố vấn). Vị đại tá này còn tin rằng kể cả
các sự đoàn của Mỹ vào cũng sẽ chỉ làm chậm lại hậu quả tương tự. Cộng
sản sẽ nắm quyền ngay sau khi lực lượng của chúng ta rút ra bất kể khi nào.
Đây không phải là tin tốt lành với tôi. Tôi là một chiến binh mùa đông tận
tâm và thực tế là một chiến binh nhà nghề. Tôi đã là thành viên chống Xô
viết từ cuộc đảo chính của người Séc và trận phong toả Berlin năm 1948,
khi tôi đang học năm cuối của trường trung học và cuộc chiến tranh Triều
Tiên khi tôi là sinh viên trường Harvard vài năm sau đó. Trong thời gian
phục vụ quân ngũ, tôi đã chọn Quân đoàn Lính thuỷ đánh bộ và có 3 năm
làm sĩ quan bộ binh. Từ vai trò người lính thuỷ đánh bộ, tôi quay trở về
Harvard để thi tốt nghiệp, sau đó vào Công ty Rand, một tổ chức nghiên
cứu phi lợi nhuận với vấn đề trọng tâm là các khía cạnh quân sự của cuộc
Chiến tranh lạnh. Công việc của tôi tới năm 1961 chủ yếu là ngăn cản một
cuộc tấn công hạt nhân bất ngờ từ Liên bang Xô viết. Tôi không thích gì
https://thuviensach.vn
hơn khi được biết miền Nam Việt Nam, nơi mà Xô viết ủng hộ phe Cộng
sản, sẽ bị đánh bại với sự trợ giúp của chúng tôi. Nhưng những cuộc tranh
luận với viên đại tá đã làm tôi tin rằng miền Nam Việt Nam không phải là
nơi đó.
Khi tôi trở lại Công ty Rand một tháng sau, thông điệp của tôi tới các cấp
trên là, tốt nhất nên tránh xa Việt Nam, tránh xa các nghiên cứu chống bạo
loạn, ít ra là về Việt Nam. Tôi nói, chúng ta đang bị lúng túng ở đó và tình
hình sẽ không khá khấm hơn, người ta sẽ cản trở và bôi nhọ mọi thứ liên
quan tới Việt Nam vì đó sẽ là một thất bại. Họ sẽ phải hứng chịu một số
phận như những người dính líu vào vụ Vịnh Con Lợn, trước đó chỉ vài
tháng. Bản thân tôi cũng quyết định không làm gì liên quan tới Việt Nam.
Một thời gian ngắn sau đó, Chính quyền Kennedy đã thể hiện một thái độ
hoàn toàn khác. Vài tuần sau khi tôi từ Việt Nam trở về, một đoàn cố vấn
của Nhà Trắng dưới sự chỉ huy của hai cố vấn cao cấp của Tổng thống là
tướng Maxwell Taylor và W. Rostow đã tới Sài Gòn để nắm bắt tình hình.
Họ phải đi đến quyết định cử các lực lượng đổ bộ Mỹ sang Việt Nam. Ngay
sau khi họ trở về một tháng, Nhà Trắng tuyên bố tăng cường sự can thiệp
của Mỹ vào Việt Nam. Giữa tháng mười một, Tổng thống Kennedy thực
hiện một đợt tăng cường nhân viên quân sự Mỹ tại Việt Nam, phá vỡ điều
khoản đã được đặt ra trong Hiệp định Geneva năm 1954. Ông ta tăng gấp
đôi số cố vấn quân sự trong hai tháng cuối của năm 1961 và cùng với các
đơn vị hỗ trợ cho các lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam: các đại đội
trực thăng các chuyên gia thông tin, vận tải, hậu cần và tình báo.
Tôi thực sự không ngạc nhiên về việc này. Tôi rất vui vì trái ngược với sự
dự đoán của báo chí những tuần trước, tổng thống đã không gửi thêm các
đơn vị chiến đấu của Mỹ. Dù sao, tôi vẫn cho rằng sự can thiệp gia tăng của
Mỹ đã đi sai hướng. (Sự có mặt của cố vấn Mỹ đã tăng tới 12.000 người
https://thuviensach.vn
vào lúc Tổng thống Kennedy chết năm 1963 và một số hàng viện trợ của
Mỹ đang được bí mật chuyển tới nhưng vẫn chưa có các đơn vị bộ binh).
Đó là những gì tôi lo sợ sẽ xảy ra; và cũng là lý do tại sao tôi có quyết định
quan trọng tách mình ra khỏi tiến trình này. Tôi đã giữ chính kiến của mình
trong ba năm tiếp theo.
https://thuviensach.vn
Daniel Ellsberg
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam
Dịch giả: Tĩnh Hà - Kiều Oanh
Chương 1
Vịnh Bắc bộ - tháng 8-1964
Sáng thứ Tư, ngày 4-8-1964, ngày đầu tiên của tôi với công việc mới ở Lầu
Năm Góc, một người đưa thư tới văn phòng đem theo một bức điện khẩn
cho cấp trên của tôi. Ông ấy đã đi vắng. Các thư ký nói với anh ta là trợ lý
Bộ trưởng John McNaughton đã ra ngoài cùng với Bộ trưởng Quốc phòng
Robert McNamara. Họ chỉ anh ta tới tôi, người trợ lý chuyện trách mới.
Người đưa thư trao cho tôi bức điện và đi.
Bức điện đến từ Hạm trưởng John J. Herrick, Phó chuẩn đô đốc Đội tàu
khu trục ở Vịnh Bắc Bộ, ngoài khơi miền Bắc Việt Nam tại Biển Đông.
Theo bản báo cáo, tàu của ông ta bị các tàu tuần tra của Bắc Việt tấn công
khi đang đi trong vùng hải phận quốc tế, trên 60 dặm ngoài khơi Bắc Việt
và đã ra lệnh bắn trả.
Một ngư lôi đã va phải trạm thuỷ âm của tàu chỉ huy Maddox, một ngư lôi
khác sượt qua tàu khu trục Turner Joy.
Ngay khi đưa cho tôi bức điện, người đưa thư quay trở lại trung tâm điện
tín ở Viện An ninh quốc tế Lầu Năm Góc, Văn phòng Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng. Trong 10 phút anh ta quay lại chỗ tôi với một bức điện khác trong
cùng một seri: "Tôi bị ngư lôi tấn công liên tiếp"(1)
Một vài phút sau, Herrick báo cáo một ngư lôi khác đã bị ông ta bắn trả, hai
ngư lôi khác đã lao xuống nước. Hai tàu khu trục của ông ta bị tấn công và
có thể một trong hai chiếc đã bị hư hại. Hai tàu đang bắn trả bằng hệ thống
https://thuviensach.vn
vũ khí điều khiển bằng radar. Cuộc đụng độ diễn ra vào một đêm tối, không
trăng không sao, trong nhiều giờ tới gần nửa đêm.
Đây là một sự kiện không bình thường. Chính xác đây là đợt tấn công thứ
hai vào tàu Hải quân của Mỹ kể từ Đại chiến thế giới II. Còn đợt đầu chỉ
cách trước đó không đầy 3 ngày, ngày chủ nhật, mồng 2 tháng tám, cũng là
tàu Maddox của Herrick đang đi tuần trên Vịnh Bắc Bộ. Vào giữa trưa,
cách bờ biển 28 dặm, 3 thuyền ngư lôi của Bắc Việt đã tấn công và phóng
ngư lôi vào tàu Maddox. Tất cả các quả ngư lôi đều trượt và không làm
thiệt hại tới tàu khu trục, ngoại trừ một viên đạn 14,5 ly trúng vào một ống
khói. Các thuyền của Bắc Việt đã bị hoả lực từ tàu Maddox, từ các máy bay
hải quân trên tàu sân bay gần đó bắn phá huỷ.
Từ đó không có một thương vong hay thiệt hại nào của phía Mỹ, Tổng
thống Johnson quyết định không thực hiện thêm hành động nào, trừ việc
đưa thêm tàu khu trục Turner Joy vào hoạt động. Hai tàu khu trục được
lệnh tiếp tục hoạt động như một đội tuần tra để khẳng định quyền qua lại tự
do của Mỹ trong hải phận quốc tế. Tổng thống còn tuyên bố rằng trong
trường hợp bị tấn công thêm, các tàu tấn công sẽ bị không chỉ đánh lui mà
là tiêu diệt. Ông ta đã gửi một kháng nghị tới Hà Nội, cảnh báo "bất cứ một
hành động quân sự nào chống lại các lực lượng của Mỹ mà không phải do
khiêu khích đều sẽ mang lại những hậu quả nghiêm trọng khó tránh nổi"
(2). Tất cả những điều này, trừ những công bố mới nhất, tôi đều đã đọc trên
các tờ báo sáng thứ Hai. Trưa hôm đó, đọc những thống kê được giải mật
của giai đoạn này, tôi đã học thêm được nhiều điều.
Giờ đây, mỗi khi có bức điện mới tới, tôi thường nhìn vào điểm thời gian ở
góc trái của các bức điện. Hai số đầu tiên chỉ ngày trong tháng; 4 số tiếp
theo, thời gian quân sự (24 giờ là nửa đêm), thời gian chính xác khi bức
điện được chuyển đi. Bức điện đầu tiên được chuyển từ tàu chỉ huy của
Herrick lúc 10h42 sáng, giờ Washington (9h42 ở Vịnh Bắc Bộ). Tôi đối
https://thuviensach.vn
chiếu thời gian chuyển với đồng hồ trên tường trong văn phòng của tôi ở
Lầu Năm Góc, lúc đó khoảng một tiếng rưỡi sau khi bức điện được chuyển,
một khoảng thời gian quá ngắn để một bức điện có thể tới được chỗ tôi. Sự
thật tương tự như thế với bức điện thứ hai, được gửi lúc 10h52 sáng giờ
Washington và tới tay tôi lúc 11h20 , và với các bức điện khác chỉ mất ít
phút. Herrick cho họ quyền cao nhất để chuyện các bức điện bằng tay, vì
thế họ có toàn quyền để chuyển và phân phát các bức điện. Nhưng 20 phút
hay 30 phút đều là một thời gian dài với một hành động như vậy. Toàn bộ
việc trao đổi vào ngày chủ nhật, trên bộ và trên không, đã kéo dài 37 phút.
Việc này đã có thể kết thúc ở đầu bên kia của trái đất, vào đúng lúc tôi đọc
bức điện đầu tiên hoặc bức điện cuối cùng. Một tàu khu trục bị đâm có thể
đã chìm trong khi chúng ta đang xem những buổi diễn tập của nó hoặc sự
thành công của nó khi tiêu diệt một kẻ tấn công. Nhưng không có cách nào
cho những người ở Washington biết về điều này khi họ đọc nó.
Tiếp đó, CNN cũng không theo dõi được hoạt động trực tiếp của nửa trái
đất bên kia, thậm chí còn chẳng có liên lạc trực tiếp giữa Washington và
các tàu khu trục ở Thái Bình Dương. Sự liên lạc thường xuyên nhất là đài
phát thanh và điện thoại với Đô đốc S.G. Sharp, Tổng Tư lệnh Thái Bình
Dương, tại sở chỉ huy của ông ta ở Hawaii. Các bức điện của CINCPAC
giờ đang chất đống trên mặt bàn của tôi, nhưng chúng không tới thường
xuyên và nhanh chóng như các bức điện từ tàu khu trục. Theo một loạt các
điện báo của Hạm trưởng Herrick, chúng tôi thực sự đã không theo dõi
được các hoạt động vào đúng thời điểm diễn ra.
Các bức điện báo rất gấp gáp. Herrick chắc chắn đã phải nửa chỉ thị nửa ra
lệnh vì hai tàu khu trục đã đột ngột đổi hướng để tránh các quả ngư lôi mà
hệ thống định vị âm thanh dưới nước của tàu Maddox đã phát hiện và trong
đêm tối đã bắn vào các mục tiêu được vạch ra bằng radar của tàu Turner
Joy: "Các quả ngư lôi trượt ra ngoài. Một quả khác đã bắn vào chúng tôi.
https://thuviensach.vn
4 quả đang dưới nước. 5 quả đang dưới nước… Đã may mắn tránh được ít
nhất 6 quả".(3)
9 quả ngư lôi đã bắn vào hai con tàu của Herrick, 14, 26. Nhiều tàu phóng
ngư lôi bị trúng hoả lực và ít nhất một chiếc bị chìm. Hoạt động này kéo
dài từ 40 phút tới một tiếng đồng hồ. Biển gầm lên dữ dội vì những đợt hoả
lực và những chiếc máy bay phóng rocket vào các vị trí do radar của tàu
Turner Joy vạch ra.
Một giờ sau đó, bỗng nhiên mọi hoạt động im bặt. Một bức điện tới thông
báo không phải toàn bộ sự việc nhưng cũng đủ để nêu vấn đề. Sau một giờ
tương đối yên tĩnh, người đưa tin tới với một loạt các bức điện từ
CINCPAC, Hạm đội 7 và các bản phân tích từ Bộ Quốc phòng, Cục tình
báo Trung ương (CIA) và các bộ phận khác của Lầu Năm Góc. Tôi đang
ngồi trong phòng, hồi tưởng lại, cố gắng lắp ghép các thông tin theo thứ tự
cho McNaughton, thì người đưa tin ấn vào tay tôi một bức điện khẩn từ
Herrick: "Hành động lặp lại đã tạo ra nhiều cuộc đụng độ như đã báo cáo
và các quả ngư lôi được phóng ra rất đáng nghi ngờ. Thời tiết bất thường
ảnh hưởng tới radar và những người điều khiển hệ thống định vị âm thanh
dưới nước quá sốt sắng có thể là lý do giải thích cho việc có nhiều báo cáo.
Không có những hình ảnh thực của tàu Maddox. Hãy cho những đánh giá
cụ thể trước khi diễn ra bất cứ một hành động nào tiếp theo"(4).
Lúc đó là hơn 2h chiều. Bức điện được gửi đi lúc 1h27 chiều, giờ
Washington. Nửa giờ sau một bức điện khác từ Herrick, đánh giá tóm tắt
hành động tích cực và tiêu cực đối với một cuộc tấn công, kết luận: "Toàn
bộ hành động đã đem lại nhiều sự nghi ngờ, ngoại trừ trận phục kích có
chủ định ngay từ ban đầu. Hãy cho máy bay trinh sát kỹ vào ban ngày"(5).
Hàng ngày, cứ cách khoảng 3-4 tiếng máy bay lại trinh sát trên vùng vịnh
để tìm ra các vết dầu loang và các mảnh tàu bị vỡ có thể do trúng hoả lực,
https://thuviensach.vn
những dấu hiệu của một cuộc tấn công chứ không chỉ là một cuộc va chạm
với các mục tiêu mà radar đã vạch ra.
Trong đầu tôi, những bức điện này đã xoá đi hình ảnh một vở kịch được
truyền "trực tiếp" trong 2 giờ mà chúng tôi đang dõi theo. Thông tin mới
này là một gáo nước lạnh. Tới khoảng 3h, để đáp lại những yêu cầu gấp
gáp cần được chứng thực, Herrick đánh điện: "Các hoạt động chi tiết thể
hiện một bức tranh lộn xộn cho dù chắc chắn trận phục kích ban đầu là có
thật". Nhưng làm sao anh ta có thể chắc chắn về điều đó, hoặc tại sao, trước
đó 1 giờ, khi anh ta dường như đã đủ tự tin, thì không còn ai có những báo
cáo tiếp theo chuyện về cho tới tận giờ?
Herrick tiếp tục khẳng định, lúc 6 giờ Washington (5h sáng giờ vùng vịnh),
chiếc thuyền đầu tiên áp sát tàu Maddox có thể đã bắn một quả ngư lôi vào
tàu Maddox (theo âm thanh nghe thấy chứ không phải nhìn thấy). Tất cả
các báo cáo về quả ngư lôi bắn vào tàu Maddox đều bị nghi ngờ vì người ta
đoán rằng do người điều khiển hệ thống định vị âm thanh dưới nước đã bị
nhầm khi nghe thấy tiếng đập chân vịt của tàu. Vì thế sự thừa nhận của anh
ta về những báo cáo đã gửi đi đều không đáng tin cậy. Đống bằng chứng tới
trong vài ngày dường như đã không có cuộc tấn công nào xảy ra vào ngày
4-8; Năm 1967, các tài liệu dường như đều khẳng định không có cuộc tấn
công thứ hai, và năm 1971 tôi buộc phải tin vào sự ngờ vực này. Năm 1966,
một bằng chứng đáng tin cậy của các sĩ quan Bắc Việt bị bắt từng tham gia
vào cuộc tấn công ngày 2 tháng tám đã bác bỏ bất cứ cuộc tấn công nào vào
ngày 4-8. Cuối năm 1970, nhà báo Anthony Austin phát hiện và đưa cho tôi
bằng chứng khẳng định, cuộc tấn công ngày 4-8 có lẽ có liên quan tới cuộc
tấn công ngày 2 tháng tám. Năm 1981, với những bằng chứng mới trong
cuốn nhật ký của mình, nhà báo Robert Scheer đã khẳng định với Herrick
rằng báo cáo về quả ngư lôi đầu tiên không được tìm thấy. Dẫu sao, ngày 48, từ những báo cáo được bảo đảm chuyện tới cho Herrick, tôi kết luận rằng
có thể đã có một cuộc tấn công dưới dạng nào đó. Đúng lúc đó, rõ ràng đã
https://thuviensach.vn
có một cơ hội tốt mà lại không xảy ra. Chính thế mà lời đề nghị tạm ngừng
để điều tra trước khi thực hiện hành động của Herrick dường như rất rõ
ràng, ông ta nói ngắn gọn: "Quay tàu lại, chấm dứt ẩu đả!". Nhưng đó
không phải là những gì được chuyển tải về Washington trưa ngày thứ tư
hôm đó.
Các bức điện mới của Herrick đã không làm chậm tiến trình chuẩn bị cho
một cuộc không kích trả đũa nhanh chóng ở Washington và ở Thái Bình
Dương, cụ thể hơn là Vịnh Bắc Bộ.
Những gì họ đã làm để khuyến khích cho công việc này là một loạt các
cuộc điều tra gây xôn xao để tìm bằng chứng, nhân chứng ủng hộ cho
những hành độ...
Những bí mật về chiến tranh Việt
Nam
Daniel Ellsberg
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lời giới thiệu
Lời nói đầu
Giai đoạn mở đầu: Việt Nam 1961
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
https://thuviensach.vn
Chương 25
Chương 26
Chương 27
Chương 28
Chương 29
Chương 30
Chương 31
Chương 32 ( Hết )
https://thuviensach.vn
Daniel Ellsberg
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam
Dịch giả: Tĩnh Hà - Kiều Oanh
Lời giới thiệu
https://thuviensach.vn
Năm 1971, Daniel Ellsberg, sĩ quan Lầu Năm Góc từng tham chiến ở Việt
Nam, đã cho công bố 7.000 trang tài liệu tối mật cho báo chí, tạo nên một
làn sóng phản đối chiến tranh Việt Nam mạnh mẽ chưa từng có tại Mỹ.
Nhận bằng tiến sĩ Kinh tế Đại học Harvard năm 1962, nhưng số phận lại
đưa ông đến làm việc ở Bộ Quốc phòng và sau đó ông được phái sang
chiến trường Việt Nam.
Sau hơn 3 năm ở Việt Nam, làm việc cho cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng và Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, năm 1967, Daniel trở về Mỹ, ông
được phân vào nhóm nghiên cứu tối mật về hoạch định chính sách đối với
Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng McNamara. Tại đây, ông đã được
trực tiếp tiếp xúc với các tài liệu mật của Nhà Trắng và biết rõ kế hoạch
muốn leo thang chiến tranh Việt Nam của Tổng thống, mặc dù bề ngoài
Nixon và bộ sậu của ông ta ra sức nói dối để bao che cho hành động leo
thang và kéo dài cuộc chiến của mình.
Là một người yêu chuộng hoà bình và đã từng có thời gian tham chiến tại
Việt Nam, hiểu rõ bản chất phi nghĩa của cuộc chiến, Dan đã đánh cược cả
cuộc đời mình, sao chụp 7.000 trang tài liệu của Hồ sơ Lầu Năm Góc. Ông
bắt đầu công việc này từ năm 1969 và đến năm 1971, ông đã đi đến quyết
định làm chấn động nước Mỹ, công bố toàn bộ tài liệu trên tờ Thời báo
New York. Dan đã từng nói: Lẽ ra, nếu tôi có thể đưa các tài liệu đó ra từ
khi tôi mới vào làm việc tại Lầu Năm Góc và Nhà Trắng, vào năm 19641965, thì có thể những tài liệu đó đã góp phần ngăn chặn cuộc chiến".
https://thuviensach.vn
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam - Hồi ức về Việt Nam và Hồ sơ Lầu
Năm Góc (Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon papers) là cuốn
hồi ký của Daniel, xuất bản năm 2002, đã trở thành cuốn sách bán chạy
nhất, gây xôn xao nước Mỹ. Cuốn sách kể lại cuộc hành trình đi tìm sự thật
của Dan và phanh phui những âm mưu dối trá của Tổng thống Nixon và
Lầu Năm Góc về cuộc chiến tranh Việt Nam, bắt đầu từ Sự kiện Vịnh Bắc
Bộ, (tháng tám năm 1964).
Tháng Ba năm 2006, Daniel trở lại thăm Việt Nam, và được trao Kỷ niệm
chương "Vì hoà bình hữu nghị giữa các dân tộc", tôn vinh những cống hiến
không mệt mỏi của ông đã góp phần thức tỉnh dư luận về cuộc đấu tranh
chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ông đã cho phép Nhà xuất bản Công
an nhân dân dịch và xuất bản cuốn hồi ký của mình.
Sau một thời gian làm việc, cuốn sách đã đến tay bạn đọc.
Hy vọng cuốn sách sẽ giúp bạn đọc có một góc nhìn đa diện hơn về cuộc
chiến và qua đó thấy rõ tâm lòng của một người ở phía bên kia chiến tuyến
đối với đất nước nhỏ bé này.
Nhà xuất bản Công an nhân dân xin trân trọng giới thiệu.
NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN
https://thuviensach.vn
Daniel Ellsberg
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam
Dịch giả: Tĩnh Hà - Kiều Oanh
Lời nói đầu
https://thuviensach.vn
Tối ngày 1 tháng mười năm 1969, tôi rảo bước nhanh qua phòng bảo vệ
của Công ty Rand(*) ở Santa Monica, tay xách một vali chứa đầy tài liệu
tối mật mà tôi dư tính sẽ sao chụp trong đêm hôm đó. Số tài liệu này là một
phần trong công trình nghiên cứu tối mật gồm 7.000 trang liên quan tới các
quyết định của Mỹ ở Việt Nam, sau này được biết đến dưới tên gọi quen
thuộc là Hồ sơ Lầu Năm Góc. Phần còn lại nằm trong két đựng tài liệu ở
văn phòng của tôi.
Tôi quyết định sao chụp toàn bộ và đưa ra công chúng bộ hồ sơ này, hoặc là
thông qua các cuộc điều trần tại Thượng viện hoặc là qua báo chí nếu tôi
thấy điều đó là cần thiết. Tôi tin rằng tôi có thể sẽ phải ngồi tù suốt đời vì
việc làm này. Cuốn hồi ký này sẽ tập trung mô tả quá trình hành động công
bố tài liệu của tôi.
Trong 11 năm, từ giữa năm 1969 đến khi kết thúc cuộc chiến tranh vào
tháng Năm năm 1975, tôi cũng như rất nhiều người Mỹ khác đặc biệt quan
tâm tới sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Vào thời gian đó, thoạt tiên tôi
nghĩ đó chỉ là một vấn đề, tiếp đến là một sự bế tắc, nhưng rồi sau đó là
một thảm hoạ về đạo đức và chính trị và cuối cùng trở thành một tội ác. Ba
phần đầu của cuốn sách tương ứng với ba giai đoạn phát triển về nhận thức
của tôi.
Những sai phạm và hành động sau đó của tôi đã phản ánh quá trình thay
đổi nhận thức đó. Khi nhận thức cuộc xung đột chỉ là một vấn đề tôi đã cố
gắng góp sức để giải quyết nó, khi nhận ra sự bế tắc, chúng ta (Nước Mỹ ND) đã cố gắng tư giải thoát mà không gây phương hại tới lợi ích của quốc
https://thuviensach.vn
gia khác, và tôi đã nỗ vạch trần và chống lại cuộc chiến khi ý thức mách
bảo nó đã trở thành một tội ác với hy vọng chấm dứt nó càng sớm càng tốt.
Qua quá trình nhận thức trên, tôi đã vận dụng nhiều cách khác nhau nhằm
tránh khả năng chiến tranh leo thang lên cao hơn. Nhưng gần đến giữa năm
1973, khi tôi phải ra trước Toà án liên bang vì nhũng hành động của tôi vào
cuối năm 1969, tôi đã nói không ai, kể cả tôi, thành công trong mục đích và
cố gắng của mình. Những nỗ lực nhằm chấm dứt cuộc xung đột - cho dù nó
được nhìn nhận như là một cuộc kiểm nghiệm bị thất bại, một vũng lầy hay
một sai phạm về mặt đạo lý - dường như cũng chẳng thấm vào đâu so với
những cố gắng để chiến thắng trong cuộc xung đột đó. Vì sao?
Như sau này tôi nhận thấy, chỉ cần chống thôi chưa đủ, chúng ta còn cần
phải hiểu về chiến tranh. Ba mươi năm sau tôi vẫn tin điều đó là sự thật.
Cuốn sách này thể hiện nỗ lực cho đến tận ngày hôm nay của tôi - những
nỗ lực còn xa mới hoàn tất - trong việc giúp các bạn hiểu về cuộc chiến
tranh của đất nước chúng ta ở Việt Nam, và bản thân tôi là một phần của
cuộc chiến đó và tại sao cuộc chiến tranh đó cũng như những nỗ lực của tôi
lại kéo dài đến như vậy.
Trong thời gian ba năm bắt đầu từ giữa năm 1964 - với ngạch bậc dân sự
cao nhất, tôi đã giúp chính quyền theo đuổi một cuộc chiến tranh mà tôi tin
ngay từ khi bắt đầu là nó sẽ bị thất bại. Làm việc tại Washington bên cạnh
những nhà hoạch định chính sách tối cao trong những năm 1964-1965, tôi
đã chứng kiến họ bí mật đẩy đất nước này vào một cuộc chiến tranh qui mô
lớn mà không hề có lấy một khả năng thành công. Sự bi quan của tôi trong
những năm đó không thay đổi, và trong vòng khoảng một năm - từ mùa
Xuân năm 1965 tới mùa Xuân năm 1966 - tôi đã kỳ vọng và làm hết sức để
trông chờ một sự thắng lợi nào đó. Sự kỳ vọng đó đặt vào vị tổng thống,
người mà bất chấp nhiều mối nghi ngại, vẫn đẩy chúng ta lún sâu vào vũng
lầy của cuộc chiến. Khi nước Mỹ đã dính líu toàn diện vào cuộc chiến
tranh, vào giữa năm 1965 tôi tình nguyện tới phục vụ ở Việt Nam như một
https://thuviensach.vn
nhân viên của Bộ Ngoại giao. Công việc của tôi là đánh giá tình hình "bình
định" ở vùng nông thôn. Thời gian này, tôi đã sử dụng vốn kiến thức của
một sĩ quan chỉ huy pháo binh của lực lượng lính thuỷ đánh bộ, để quan sát
cuộc chiến tranh một cách toàn diện. Trước đây câu hỏi liệu chúng ta có
một quyền gì đó, bất kể quyền gì cao hơn người Pháp tới chúng ta, để theo
đuổi cuộc chiến bằng lửa đạn và sắt thép ở Đông Dương, những mục tiêu
mà các nhà lãnh đạo của chúng ta đã lựa chọn, chưa bao giờ khiến tôi phải
bận tâm. Trong hai năm ở Việt Nam, ấn tượng về những người dân và hoàn
cảnh của họ đã trở nên chân thực với tôi hơn, chân thực như những binh
lính Mỹ mà tôi cùng hành quân, như chính đôi bàn tay của tôi, mà trong
một khía cạnh nào đó, đã khiến việc tiếp tục theo đuổi cuộc chiến vô vọng
đó trở nên không thể tha thứ được.
Bị loại khỏi chiến trường vì bệnh viêm gan và quay trở lại Mỹ từ giữa năm
1967 tôi bắt đầu làm tất cả những gì có thể để giúp đất nước tôi thoát khỏi
cuộc chiến tranh. Trong hai năm tôi làm việc này với danh nghĩa là người
trong cuộc phỏng vấn trực tiếp các quan chức cao cấp, cố vấn cho các ứng
cử viên tổng thống và cuối cùng, vào đầu năm 1969, làm trợ lý Cố vấn An
ninh quốc gia của Tổng thống. Nhưng cùng trong năm đó, tôi nhận ra mình
đã phá vỡ kế hoạch đề ra ban đầu nên quyết định chấm dứt sự nghiệp công
bộc cho chính phủ.
Một trong những việc làm trên đe doạ xâm hại quyền tụ do của tôi. Năm
1969 và 1970, với sự giúp đỡ của người bạn tên là Anthony Russo - một
cựu thành viên của Công ty Rand, tôi bí mật sao chụp toàn bộ 47 tập Hồ sơ
Lầu Năm Góc, một văn kiện nghiên cứu tối mật về các quyết định của Mỹ
ở Việt Nam từ 1945 đến 1968, làm sở hữu riêng của mình và trao chúng
cho Thượng nghị sỹ William Fulbright, Chủ tịch Uỷ ban đối ngoại Thượng
viện. Năm 1971, tôi cũng đã trao những bản sao cho tờ Thời báo New York
và tờ Bưu điện Washington và cuối cùng, bất chấp tới bốn lệnh cấm của liên
https://thuviensach.vn
bang, một điều chưa có tiền lệ, cho 17 tờ báo khác mà sau đó đã đem công
bô nội dung tài liệu của tôi.
Tôi đã không sai khi nhận định về những mối nguy hiểm đối với cá nhân
tôi. Ngay sau đó, tôi bị buộc phải ra trước toà án liên bang, tiếp theo là
Russo. Tổng cộng, tôi bị quy tới 12 tội và có thể phải chịu tới 115 năm tù
với một vài lần hầu toà nữa. Nhưng tôi cũng không sai khi hy vọng rằng
vạch trần những bí mật và những điều dối trá của 5 vị tổng thống có thể
làm lợi cho nền dân chủ của chúng ta và đó là cái giá xứng đáng cho sự
mạo hiểm của mình. Sự thật được tiết lộ sẽ là động lực để thúc đẩy việc
đưa ra công luận hàng loạt vấn đề, bao gồm cả những việc làm xấu xa của
Nhà Trắng hòng làm mất uy tín của tôi cũng như bắt tôi phải im miệng.
Đương nhiên là nếu tôi khuất phục thì họ sẽ bãi bỏ những cáo buộc chống
lại tôi và bạn bè của tôi. Nhưng điều quan trọng hơn nhiều là chính những
tội ác của Phòng Bầu Dục đã góp phần lật đổ Tổng thống, một bước hết sức
cần thiết trước khi đi đến kết thúc chiến tranh.
Đây là câu chuyện về sự thay đổi lớn nhất trong đời tôi, nó bắt đầu kể từ
khi tôi từ Việt Nam trở về. Sự tan vỡ của nhũng niềm hy vọng mỏng manh
mà tôi có. Ở Việt Nam, sự hoài nghi về cuộc chiến tranh đã theo tôi về Mỹ
từ giữa năm 1967 không còn xa lạ gì với tôi nữa. Trái lại, nó khiến tôi bi
quan trở lại như trong chuyện đi đầu tiên tới Việt Nam năm 1961 và nó lại
được nhân lên trong năm đầu tiên tôi làm cho Lầu Năm Góc từ giữa năm
1964. Năm 1967, tâm lý hoài nghi này lan rộng trong chính phủ. Dư luận
bên ngoài thậm chí có lẽ còn hoài nghi hơn nữa. Đây chính là thời điểm mà
mong muốn chứng kiến cuộc chiến tranh kết thúc của tôi cũng không khác
với hầu hết các đồng nghiệp trong chính phủ hoặc trong các cơ sở nghiên
cứu do chính phủ tài trơ, dù họ đã hoặc chưa tùng phục vụ ở Việt Nam. Cả
một thế hệ sinh ra trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam cũng đều trở nên vỡ
mộng như tôi về một cuộc chiến tranh mà họ thấy ở đó sự vô vọng và vô
tận.
https://thuviensach.vn
Tôi cũng từng có chung quan niệm như họ về những giá trị và đặc tính của
nước Mỹ, tham gia tích cực vào Chiến tranh lạnh, vào việc chống chủ nghĩa
cộng sản, vào việc giữ bí mật, và vào việc ủng hộ chiếc ghế tổng thống.
Đến năm 1968, nếu không nói là sớm hơn, tất cả họ, cũng như tôi đều
muốn thấy nước Mỹ cần phải thoát ra khỏi cuộc chiến tranh này. Mong
muốn này thúc đẩy tôi tìm hiểu câu hỏi. Tại sao chiến tranh lại có thể xảy
ra trong những hoàn cảnh như vậy, nhất là sau sự ám ảnh ghê gớm của cuộc
Tổng tiến công Tết Mậu Thân hồi đầu năm 1968 mà cuộc chiến vẫn có thể
kéo dài tới bảy năm nữa?
Nội dung chính của cuốn hồi ký này kể một câu chuyện với phần mở đầu là
sự chỉ trích của những nhân vật trong chính phủ về chính chính sách của
chúng ta, đến chỗ cuối cùng tôi đã vượt lên trên cả những nỗ lực chấm dứt
chiến tranh từ vị trí trong ngành hành pháp, sẵn sàng từ bỏ những đặc
quyền và mối quan hệ chính trị, cơ hội phục vụ các tổng thống tương lai,
toàn bộ sự nghiệp của tôi để thay bằng việc chấp nhận viễn cảnh của một
cuộc sống ở chốn lao tù. Cuốn sách tập trung vào những điều mà kinh
nghiệm cuộc sống đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện công việc của mình
suốt từ năm 1969 đến năm 1972, nhũng điều tôi đang mong muốn tôi (hoặc
nhũng người khác) đã làm trong năm 1964 hoặc 1965 đó là: đưa những tài
liệu này ra Quốc hội và báo chí để nói ra sự thật.
Thật dễ để nói rằng ý tưởng phanh phui sự thật đơn giản đã không đến với
tôi và cũng như bất kỳ ai vào thời điểm đó. Vấn đề còn lại là tại sao điều đó
lại không xảy ra? Cũng giống như nhiều người, tôi hoàn toàn tin tưởng vào
vị tổng thống của mình (và đối với nghề nghiệp của tôi, những dữ liệu
thông tin nội bộ và ảnh hưởng của nó, dù sao chăng nữa, tôi cũng đã lý
tưởng hoá mục đích của mình) trên tất cả mọi thứ khác, trên lòng trung
thành với Hiến pháp, trách nhiệm với sự thật, với những người bạn Mỹ và
với những cuộc sống của những người khác. Đây là một câu chuyện đối
https://thuviensach.vn
diện với sự thật, mà vì nó, tôi luôn biết ơn, của những thanh niên Mỹ đã lựa
chọn thà vào tù còn hơn là tham gia vào một cuộc chiến mà họ biết là sai
lầm, đã thức tỉnh tôi trước những sự trung thành cao cả này.
Tôi hy vọng, thông qua cuốn hồi ký, đưa ra những bài học cho các quan
chức tương lai trong những hoàn cảnh tương tự và cho tất cả mọi người
dân, những người sẽ theo dõi trách nhiệm của chính phủ trong quá trình
thực thi nhiệm vụ. Tôi sẽ nêu một bài học thú vị hơn (như mô tả trong Phần
IV)l vào thời điểm chuẩn bị kết thúc phiên toà và sau đó, là việc nói ra sự
thật, vạch trần những bí mật sai trái được che đậy, có thể đem lại một sức
mạnh bất ngờ chưa từng thấy, nó giúp chấm dứt một sai lầm và cứu được
những mạng sống.
Chú thích:
(*)
Rand là công ty nghiên cứu chiến lược thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ, viết
tắt của cụm từ tiếng Anh "Research and Development", nghĩa là "Nghiên
cứu và Phát triển" - ND
https://thuviensach.vn
Daniel Ellsberg
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam
Dịch giả: Tĩnh Hà - Kiều Oanh
Giai đoạn mở đầu: Việt Nam 1961
Mùa thu năm 1961, không phải mất nhiều thời gian để khám phá ra rằng
chúng ta hầu như không thể giành được thắng lợi ở Việt Nam. Tôi chỉ mất
gần một tuần trong chuyện thăm đầu tiên để hiểu ra điều đó. Với việc tiếp
cận đúng nguồn thông tin, nói chuyện với đúng đối tượng dân chúng, bạn
có thể nhanh chóng có được một cái nhìn xác thực. Bạn không phải nói
tiếng Việt Nam, cũng không cần phải biết lịch sử, triết học hay văn hoá
châu Á mới có thể biết được rằng mọi việc chúng ta đang cố gắng làm đều
chẳng đem lại kết quả tốt đẹp gì hơn. Tôi đã đọc đâu đó rằng bạn không
cần phải là một nhà ngư học mới biết được khi nào thì một con cá bị chết
thối.
Tôi là thành viên cấp cao của một lực lượng đặc nhiệm thuộc Lầu Năm
Góc, tới thăm Đoàn Cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) ở Việt Nam với
một giấy phép có thể "đi bất cứ đâu, xem bất cứ cái gì". Trưởng đoàn cố
vấn viện trợ quân sự Mỹ, tướng Lionel McGan, đã yêu cầu các thành viên
tham mưu của ông ta giúp chúng tôi bằng mọi cách để chúng tôi có thể nói
một cách thẳng thắn. Đặc biệt, có một viên đại tá, người mà tôi đã nói
chuyện vào thời gian gần cuối nhiệm kỳ của ông ta ở Việt Nam, đã có ý
định chuyển giao lại những gì ông ta thu thập được ở đất nước này cho một
người nào đó mà người đó có thể nói được với công chúng ở Washington.
Ông đã cho tôi xem các hồ sơ của Đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ và kéo
ra hàng đống những cặp tài liệu, và tôi đã thức trắng mấy đêm để đọc, phân
loại các kế hoạch, báo cáo và các bản phân tích những chương trình của
chúng ta và triển vọng của nó ở Việt Nam.
Mùi mốc của tài liệu rách nát hiện hữu ở mọi chỗ, và ông bạn đại tá của tôi
https://thuviensach.vn
cũng chẳng có một cố gắng nào để làm thay đổi tình trạng này.
Ông ta nói với tôi rằng dưới sự trị vì của Tổng thống Ngô Đình Diệm, một
nhà lãnh đạo độc tài mà chúng ta đã lựa chọn cho miền Nam Việt Nam
trước bảy năm, thì cuối cùng trong vòng một hoặc hai năm, Cộng sản gần
như chắc chắn sẽ lên nắm quyền.
Nếu Diệm, người đã rất thành công trong năm trước đó bị phế truất trong
một cuộc đảo chính, thì Cộng sản thậm chí còn giành thắng lợi nhanh hơn.
Hầu hết các sĩ quan của Đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ đều đồng ý với
ông ta và với nhiều quan chức người Việt Nam rằng điều duy nhất có thể
làm thay đổi triển vọng này trong thời gian ngắn là các lực lượng chiến đấu
người Mỹ với qui mô lớn. (Hiệp định Geneva năm 1954 chỉ cho phép 350
cố vấn quân sự của Mỹ có mặt tại Việt Nam, cho dù bằng nhiều mưu mẹo
khác nhau Mỹ đã cho tới hơn 700 cố vấn). Vị đại tá này còn tin rằng kể cả
các sự đoàn của Mỹ vào cũng sẽ chỉ làm chậm lại hậu quả tương tự. Cộng
sản sẽ nắm quyền ngay sau khi lực lượng của chúng ta rút ra bất kể khi nào.
Đây không phải là tin tốt lành với tôi. Tôi là một chiến binh mùa đông tận
tâm và thực tế là một chiến binh nhà nghề. Tôi đã là thành viên chống Xô
viết từ cuộc đảo chính của người Séc và trận phong toả Berlin năm 1948,
khi tôi đang học năm cuối của trường trung học và cuộc chiến tranh Triều
Tiên khi tôi là sinh viên trường Harvard vài năm sau đó. Trong thời gian
phục vụ quân ngũ, tôi đã chọn Quân đoàn Lính thuỷ đánh bộ và có 3 năm
làm sĩ quan bộ binh. Từ vai trò người lính thuỷ đánh bộ, tôi quay trở về
Harvard để thi tốt nghiệp, sau đó vào Công ty Rand, một tổ chức nghiên
cứu phi lợi nhuận với vấn đề trọng tâm là các khía cạnh quân sự của cuộc
Chiến tranh lạnh. Công việc của tôi tới năm 1961 chủ yếu là ngăn cản một
cuộc tấn công hạt nhân bất ngờ từ Liên bang Xô viết. Tôi không thích gì
https://thuviensach.vn
hơn khi được biết miền Nam Việt Nam, nơi mà Xô viết ủng hộ phe Cộng
sản, sẽ bị đánh bại với sự trợ giúp của chúng tôi. Nhưng những cuộc tranh
luận với viên đại tá đã làm tôi tin rằng miền Nam Việt Nam không phải là
nơi đó.
Khi tôi trở lại Công ty Rand một tháng sau, thông điệp của tôi tới các cấp
trên là, tốt nhất nên tránh xa Việt Nam, tránh xa các nghiên cứu chống bạo
loạn, ít ra là về Việt Nam. Tôi nói, chúng ta đang bị lúng túng ở đó và tình
hình sẽ không khá khấm hơn, người ta sẽ cản trở và bôi nhọ mọi thứ liên
quan tới Việt Nam vì đó sẽ là một thất bại. Họ sẽ phải hứng chịu một số
phận như những người dính líu vào vụ Vịnh Con Lợn, trước đó chỉ vài
tháng. Bản thân tôi cũng quyết định không làm gì liên quan tới Việt Nam.
Một thời gian ngắn sau đó, Chính quyền Kennedy đã thể hiện một thái độ
hoàn toàn khác. Vài tuần sau khi tôi từ Việt Nam trở về, một đoàn cố vấn
của Nhà Trắng dưới sự chỉ huy của hai cố vấn cao cấp của Tổng thống là
tướng Maxwell Taylor và W. Rostow đã tới Sài Gòn để nắm bắt tình hình.
Họ phải đi đến quyết định cử các lực lượng đổ bộ Mỹ sang Việt Nam. Ngay
sau khi họ trở về một tháng, Nhà Trắng tuyên bố tăng cường sự can thiệp
của Mỹ vào Việt Nam. Giữa tháng mười một, Tổng thống Kennedy thực
hiện một đợt tăng cường nhân viên quân sự Mỹ tại Việt Nam, phá vỡ điều
khoản đã được đặt ra trong Hiệp định Geneva năm 1954. Ông ta tăng gấp
đôi số cố vấn quân sự trong hai tháng cuối của năm 1961 và cùng với các
đơn vị hỗ trợ cho các lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam: các đại đội
trực thăng các chuyên gia thông tin, vận tải, hậu cần và tình báo.
Tôi thực sự không ngạc nhiên về việc này. Tôi rất vui vì trái ngược với sự
dự đoán của báo chí những tuần trước, tổng thống đã không gửi thêm các
đơn vị chiến đấu của Mỹ. Dù sao, tôi vẫn cho rằng sự can thiệp gia tăng của
Mỹ đã đi sai hướng. (Sự có mặt của cố vấn Mỹ đã tăng tới 12.000 người
https://thuviensach.vn
vào lúc Tổng thống Kennedy chết năm 1963 và một số hàng viện trợ của
Mỹ đang được bí mật chuyển tới nhưng vẫn chưa có các đơn vị bộ binh).
Đó là những gì tôi lo sợ sẽ xảy ra; và cũng là lý do tại sao tôi có quyết định
quan trọng tách mình ra khỏi tiến trình này. Tôi đã giữ chính kiến của mình
trong ba năm tiếp theo.
https://thuviensach.vn
Daniel Ellsberg
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam
Dịch giả: Tĩnh Hà - Kiều Oanh
Chương 1
Vịnh Bắc bộ - tháng 8-1964
Sáng thứ Tư, ngày 4-8-1964, ngày đầu tiên của tôi với công việc mới ở Lầu
Năm Góc, một người đưa thư tới văn phòng đem theo một bức điện khẩn
cho cấp trên của tôi. Ông ấy đã đi vắng. Các thư ký nói với anh ta là trợ lý
Bộ trưởng John McNaughton đã ra ngoài cùng với Bộ trưởng Quốc phòng
Robert McNamara. Họ chỉ anh ta tới tôi, người trợ lý chuyện trách mới.
Người đưa thư trao cho tôi bức điện và đi.
Bức điện đến từ Hạm trưởng John J. Herrick, Phó chuẩn đô đốc Đội tàu
khu trục ở Vịnh Bắc Bộ, ngoài khơi miền Bắc Việt Nam tại Biển Đông.
Theo bản báo cáo, tàu của ông ta bị các tàu tuần tra của Bắc Việt tấn công
khi đang đi trong vùng hải phận quốc tế, trên 60 dặm ngoài khơi Bắc Việt
và đã ra lệnh bắn trả.
Một ngư lôi đã va phải trạm thuỷ âm của tàu chỉ huy Maddox, một ngư lôi
khác sượt qua tàu khu trục Turner Joy.
Ngay khi đưa cho tôi bức điện, người đưa thư quay trở lại trung tâm điện
tín ở Viện An ninh quốc tế Lầu Năm Góc, Văn phòng Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng. Trong 10 phút anh ta quay lại chỗ tôi với một bức điện khác trong
cùng một seri: "Tôi bị ngư lôi tấn công liên tiếp"(1)
Một vài phút sau, Herrick báo cáo một ngư lôi khác đã bị ông ta bắn trả, hai
ngư lôi khác đã lao xuống nước. Hai tàu khu trục của ông ta bị tấn công và
có thể một trong hai chiếc đã bị hư hại. Hai tàu đang bắn trả bằng hệ thống
https://thuviensach.vn
vũ khí điều khiển bằng radar. Cuộc đụng độ diễn ra vào một đêm tối, không
trăng không sao, trong nhiều giờ tới gần nửa đêm.
Đây là một sự kiện không bình thường. Chính xác đây là đợt tấn công thứ
hai vào tàu Hải quân của Mỹ kể từ Đại chiến thế giới II. Còn đợt đầu chỉ
cách trước đó không đầy 3 ngày, ngày chủ nhật, mồng 2 tháng tám, cũng là
tàu Maddox của Herrick đang đi tuần trên Vịnh Bắc Bộ. Vào giữa trưa,
cách bờ biển 28 dặm, 3 thuyền ngư lôi của Bắc Việt đã tấn công và phóng
ngư lôi vào tàu Maddox. Tất cả các quả ngư lôi đều trượt và không làm
thiệt hại tới tàu khu trục, ngoại trừ một viên đạn 14,5 ly trúng vào một ống
khói. Các thuyền của Bắc Việt đã bị hoả lực từ tàu Maddox, từ các máy bay
hải quân trên tàu sân bay gần đó bắn phá huỷ.
Từ đó không có một thương vong hay thiệt hại nào của phía Mỹ, Tổng
thống Johnson quyết định không thực hiện thêm hành động nào, trừ việc
đưa thêm tàu khu trục Turner Joy vào hoạt động. Hai tàu khu trục được
lệnh tiếp tục hoạt động như một đội tuần tra để khẳng định quyền qua lại tự
do của Mỹ trong hải phận quốc tế. Tổng thống còn tuyên bố rằng trong
trường hợp bị tấn công thêm, các tàu tấn công sẽ bị không chỉ đánh lui mà
là tiêu diệt. Ông ta đã gửi một kháng nghị tới Hà Nội, cảnh báo "bất cứ một
hành động quân sự nào chống lại các lực lượng của Mỹ mà không phải do
khiêu khích đều sẽ mang lại những hậu quả nghiêm trọng khó tránh nổi"
(2). Tất cả những điều này, trừ những công bố mới nhất, tôi đều đã đọc trên
các tờ báo sáng thứ Hai. Trưa hôm đó, đọc những thống kê được giải mật
của giai đoạn này, tôi đã học thêm được nhiều điều.
Giờ đây, mỗi khi có bức điện mới tới, tôi thường nhìn vào điểm thời gian ở
góc trái của các bức điện. Hai số đầu tiên chỉ ngày trong tháng; 4 số tiếp
theo, thời gian quân sự (24 giờ là nửa đêm), thời gian chính xác khi bức
điện được chuyển đi. Bức điện đầu tiên được chuyển từ tàu chỉ huy của
Herrick lúc 10h42 sáng, giờ Washington (9h42 ở Vịnh Bắc Bộ). Tôi đối
https://thuviensach.vn
chiếu thời gian chuyển với đồng hồ trên tường trong văn phòng của tôi ở
Lầu Năm Góc, lúc đó khoảng một tiếng rưỡi sau khi bức điện được chuyển,
một khoảng thời gian quá ngắn để một bức điện có thể tới được chỗ tôi. Sự
thật tương tự như thế với bức điện thứ hai, được gửi lúc 10h52 sáng giờ
Washington và tới tay tôi lúc 11h20 , và với các bức điện khác chỉ mất ít
phút. Herrick cho họ quyền cao nhất để chuyện các bức điện bằng tay, vì
thế họ có toàn quyền để chuyển và phân phát các bức điện. Nhưng 20 phút
hay 30 phút đều là một thời gian dài với một hành động như vậy. Toàn bộ
việc trao đổi vào ngày chủ nhật, trên bộ và trên không, đã kéo dài 37 phút.
Việc này đã có thể kết thúc ở đầu bên kia của trái đất, vào đúng lúc tôi đọc
bức điện đầu tiên hoặc bức điện cuối cùng. Một tàu khu trục bị đâm có thể
đã chìm trong khi chúng ta đang xem những buổi diễn tập của nó hoặc sự
thành công của nó khi tiêu diệt một kẻ tấn công. Nhưng không có cách nào
cho những người ở Washington biết về điều này khi họ đọc nó.
Tiếp đó, CNN cũng không theo dõi được hoạt động trực tiếp của nửa trái
đất bên kia, thậm chí còn chẳng có liên lạc trực tiếp giữa Washington và
các tàu khu trục ở Thái Bình Dương. Sự liên lạc thường xuyên nhất là đài
phát thanh và điện thoại với Đô đốc S.G. Sharp, Tổng Tư lệnh Thái Bình
Dương, tại sở chỉ huy của ông ta ở Hawaii. Các bức điện của CINCPAC
giờ đang chất đống trên mặt bàn của tôi, nhưng chúng không tới thường
xuyên và nhanh chóng như các bức điện từ tàu khu trục. Theo một loạt các
điện báo của Hạm trưởng Herrick, chúng tôi thực sự đã không theo dõi
được các hoạt động vào đúng thời điểm diễn ra.
Các bức điện báo rất gấp gáp. Herrick chắc chắn đã phải nửa chỉ thị nửa ra
lệnh vì hai tàu khu trục đã đột ngột đổi hướng để tránh các quả ngư lôi mà
hệ thống định vị âm thanh dưới nước của tàu Maddox đã phát hiện và trong
đêm tối đã bắn vào các mục tiêu được vạch ra bằng radar của tàu Turner
Joy: "Các quả ngư lôi trượt ra ngoài. Một quả khác đã bắn vào chúng tôi.
https://thuviensach.vn
4 quả đang dưới nước. 5 quả đang dưới nước… Đã may mắn tránh được ít
nhất 6 quả".(3)
9 quả ngư lôi đã bắn vào hai con tàu của Herrick, 14, 26. Nhiều tàu phóng
ngư lôi bị trúng hoả lực và ít nhất một chiếc bị chìm. Hoạt động này kéo
dài từ 40 phút tới một tiếng đồng hồ. Biển gầm lên dữ dội vì những đợt hoả
lực và những chiếc máy bay phóng rocket vào các vị trí do radar của tàu
Turner Joy vạch ra.
Một giờ sau đó, bỗng nhiên mọi hoạt động im bặt. Một bức điện tới thông
báo không phải toàn bộ sự việc nhưng cũng đủ để nêu vấn đề. Sau một giờ
tương đối yên tĩnh, người đưa tin tới với một loạt các bức điện từ
CINCPAC, Hạm đội 7 và các bản phân tích từ Bộ Quốc phòng, Cục tình
báo Trung ương (CIA) và các bộ phận khác của Lầu Năm Góc. Tôi đang
ngồi trong phòng, hồi tưởng lại, cố gắng lắp ghép các thông tin theo thứ tự
cho McNaughton, thì người đưa tin ấn vào tay tôi một bức điện khẩn từ
Herrick: "Hành động lặp lại đã tạo ra nhiều cuộc đụng độ như đã báo cáo
và các quả ngư lôi được phóng ra rất đáng nghi ngờ. Thời tiết bất thường
ảnh hưởng tới radar và những người điều khiển hệ thống định vị âm thanh
dưới nước quá sốt sắng có thể là lý do giải thích cho việc có nhiều báo cáo.
Không có những hình ảnh thực của tàu Maddox. Hãy cho những đánh giá
cụ thể trước khi diễn ra bất cứ một hành động nào tiếp theo"(4).
Lúc đó là hơn 2h chiều. Bức điện được gửi đi lúc 1h27 chiều, giờ
Washington. Nửa giờ sau một bức điện khác từ Herrick, đánh giá tóm tắt
hành động tích cực và tiêu cực đối với một cuộc tấn công, kết luận: "Toàn
bộ hành động đã đem lại nhiều sự nghi ngờ, ngoại trừ trận phục kích có
chủ định ngay từ ban đầu. Hãy cho máy bay trinh sát kỹ vào ban ngày"(5).
Hàng ngày, cứ cách khoảng 3-4 tiếng máy bay lại trinh sát trên vùng vịnh
để tìm ra các vết dầu loang và các mảnh tàu bị vỡ có thể do trúng hoả lực,
https://thuviensach.vn
những dấu hiệu của một cuộc tấn công chứ không chỉ là một cuộc va chạm
với các mục tiêu mà radar đã vạch ra.
Trong đầu tôi, những bức điện này đã xoá đi hình ảnh một vở kịch được
truyền "trực tiếp" trong 2 giờ mà chúng tôi đang dõi theo. Thông tin mới
này là một gáo nước lạnh. Tới khoảng 3h, để đáp lại những yêu cầu gấp
gáp cần được chứng thực, Herrick đánh điện: "Các hoạt động chi tiết thể
hiện một bức tranh lộn xộn cho dù chắc chắn trận phục kích ban đầu là có
thật". Nhưng làm sao anh ta có thể chắc chắn về điều đó, hoặc tại sao, trước
đó 1 giờ, khi anh ta dường như đã đủ tự tin, thì không còn ai có những báo
cáo tiếp theo chuyện về cho tới tận giờ?
Herrick tiếp tục khẳng định, lúc 6 giờ Washington (5h sáng giờ vùng vịnh),
chiếc thuyền đầu tiên áp sát tàu Maddox có thể đã bắn một quả ngư lôi vào
tàu Maddox (theo âm thanh nghe thấy chứ không phải nhìn thấy). Tất cả
các báo cáo về quả ngư lôi bắn vào tàu Maddox đều bị nghi ngờ vì người ta
đoán rằng do người điều khiển hệ thống định vị âm thanh dưới nước đã bị
nhầm khi nghe thấy tiếng đập chân vịt của tàu. Vì thế sự thừa nhận của anh
ta về những báo cáo đã gửi đi đều không đáng tin cậy. Đống bằng chứng tới
trong vài ngày dường như đã không có cuộc tấn công nào xảy ra vào ngày
4-8; Năm 1967, các tài liệu dường như đều khẳng định không có cuộc tấn
công thứ hai, và năm 1971 tôi buộc phải tin vào sự ngờ vực này. Năm 1966,
một bằng chứng đáng tin cậy của các sĩ quan Bắc Việt bị bắt từng tham gia
vào cuộc tấn công ngày 2 tháng tám đã bác bỏ bất cứ cuộc tấn công nào vào
ngày 4-8. Cuối năm 1970, nhà báo Anthony Austin phát hiện và đưa cho tôi
bằng chứng khẳng định, cuộc tấn công ngày 4-8 có lẽ có liên quan tới cuộc
tấn công ngày 2 tháng tám. Năm 1981, với những bằng chứng mới trong
cuốn nhật ký của mình, nhà báo Robert Scheer đã khẳng định với Herrick
rằng báo cáo về quả ngư lôi đầu tiên không được tìm thấy. Dẫu sao, ngày 48, từ những báo cáo được bảo đảm chuyện tới cho Herrick, tôi kết luận rằng
có thể đã có một cuộc tấn công dưới dạng nào đó. Đúng lúc đó, rõ ràng đã
https://thuviensach.vn
có một cơ hội tốt mà lại không xảy ra. Chính thế mà lời đề nghị tạm ngừng
để điều tra trước khi thực hiện hành động của Herrick dường như rất rõ
ràng, ông ta nói ngắn gọn: "Quay tàu lại, chấm dứt ẩu đả!". Nhưng đó
không phải là những gì được chuyển tải về Washington trưa ngày thứ tư
hôm đó.
Các bức điện mới của Herrick đã không làm chậm tiến trình chuẩn bị cho
một cuộc không kích trả đũa nhanh chóng ở Washington và ở Thái Bình
Dương, cụ thể hơn là Vịnh Bắc Bộ.
Những gì họ đã làm để khuyến khích cho công việc này là một loạt các
cuộc điều tra gây xôn xao để tìm bằng chứng, nhân chứng ủng hộ cho
những hành độ...
 





