BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    IMG_20210226_092255.jpg IMG_20210226_092242.jpg 15230796_1709875675996119_1329632988585197351_n.jpg

    Dạy bé các phương tiện giao thông | Vạn điều hay cho bé

    Kể Chuyện Danh Nhân Việt Nam - Tập 4 Danh Nhân Văn Hóa Việt Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
    Ngày gửi: 21h:20' 10-03-2024
    Dung lượng: 6.2 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    TẬP 4: DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    1

    nhà xuất bản trẻ

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ý PHÊ BÌNH
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
    161b Lý Chính Thắng - Quận 3 - TP. Hồ Chí Minh
    Điện thoại: 9316211 - 8465595 - 8465596 - 9316289
    Fax: 84.8.8437450
    E-mail: nxbtre@hcm.vnn.vn
    Website: http://www. nxbtre.com.vn

    4

    TẬP 4: DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    LỜI NÓI ĐẦU
    Khi viết Lịch triều hiến chương loại chí, nhà bách khoa Phan Huy
    Chú (1762-1840) có lời án trong phần Nhân vật chí mục Nhà nho có
    đức nghiệp, quyển XI - như sau: “Các danh nho xưa nay rất nhiều,
    dường như không thể kể xiết. Nhưng những người đọc sách, đỗ đạt,
    mà đức vọng văn chương không rõ rệt để kê cứu, đều không chép. Chỉ
    nhặt lấy những người hơn cả, trước sau vài chục ông. Hoặc đạo đức
    nổi tiếng, hoặc khí tiết rõ rệt, hoặc giỏi về trước thuật, hoặc chuyên
    về văn chương, tuy tài giỏi không như nhau, nhưng đều có tiếng trên
    đời. Tóm lại, những người ấy không hổ là bậc danh nho cho nên chép
    rõ hành trạng các bậc đó”.
    Nay chúng tôi ngồi trước án sách, trang nghiêm lật lại trang sách
    của người xưa, tưởng chừng như còn nghe lời nói ấy vang vọng bên
    tai. Học tập người xưa, chúng tôi cũng viết về những bậc danh nhân
    văn hóa của nước nhà. Mạo muội làm điều này cũng không ngoài mục
    đích giúp cho độc giả - nhất là bạn đọc thanh thiếu niên - hiểu rõ hơn
    công đức của các bậc tiền nhân. Với một tập sách mỏng, chúng tôi
    chưa thể viết được hết các bậc “có tiếng trên đời” trong lãnh vực văn
    hóa. Xin sẽ trở lại với những tập sau.
    Trong Bình Ngô đại cáo, mà người đời đã đánh giá là “Thiên cổ
    hùng văn”, nhà văn hóa lỗi lạc Nguyễn Trãi có viết:
    Nước Đại Việt ta từ trước
    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
    Núi sông bờ cõi đã chia
    Phong tục Bắc Nam cũng khác
    5

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Điều này khẳng định, nước ta vốn có truyền thống văn hóa lâu đời.
    Dù các thế lực ngoại xâm từ hàng ngàn năm nay đã thực hiện chính
    sách đồng hóa về mọi mặt nhưng cuối cùng chỉ chuốc lại sự bại vong.
    Sức mạnh văn hóa của dân tộc ta bền bỉ, trường tồn như sức sống của
    một dân tộc. Những giá trị vật chất và tinh thần do tiền nhân sáng tạo
    ra trong quá trình lịch sử mãi mãi là niềm tự hào của các thế hệ sau.
    Trong tập sách này chúng tôi cố gắng nêu bật công đức của các
    danh nhân như anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Khi đánh giặc, ông đã
    cùng Lê Lợi đã vận dụng sức mạnh của văn hóa dân tộc:
    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
    để đạt mục đích cuối cùng là “Xã tắc từ đây bền vững”. Trong số các
    nhân vật được UNESCO công nhận Danh nhân văn hóa thế giới, ngoài
    Nguyễn Trãi chúng tôi còn đề cập đến thi hào Nguyễn Du - người đã
    để lại một tác phẩm có giá trị là viên ngọc quý Truyện Kiều, không
    chỉ làm rạng rỡ nền văn hóa nước nhà mà còn có tiếng vang trên thế
    giới; Chủ tịch Hồ Chí Minh - một vĩ nhân lỗi lạc của thế kỷ XX mà
    cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã phát biểu “Dân tộc ta, nhân dân ta, non
    sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ
    đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non
    sông đất nước ta”.
    Trong nhiều giai đoạn khác nhau của lịch sử, chúng tôi đề cập đến
    danh nhân Phạm Đình Hổ - tác giả của nhiều công trình nghiên cứu
    có giá trị về lịch sử, ngôn ngữ, đại lý, thơ ca... mà lâu nay chúng ta
    chỉ mới biết qua Vũ trung tùy bút. Tiếp theo, chúng tôi đề cập đến
    Nguyễn Khuyến - thi sĩ số một của làng quê, của mùa thu Việt Nam
    và cũng là cây bút trào phúng xuất sắc nhất thời đại mà ông đã sống.
    Bên cạnh đó, chúng tôi cũng giới thiệu những đóng góp của các danh
    nhân khác như nhà thơ Phan Văn Trị, nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng
    Chi, nhà văn Nam Cao, họa sĩ Nguyễn Phan Chánh... với những công
    trình có giá trị lâu bền trong kho tàng văn hóa của nước nhà.
    Chúng tôi cũng không quên đến nhà thơ trào phúng Tú Xương 6

    TẬP 4: DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    người đã để lại một sự nghiệp văn học để tạo nên cốt cách trào phúng
    và trữ tình mà ít nhà thơ nào sánh kịp. Trong số các “môn đệ” của Tú
    Xương, chúng tôi giới thiệu nhà thơ Tú Mỡ - một cây bút trào phúng
    rất nổi tiếng trên văn đàn những năm 1930 của thế kỷ XX. Tiếng cười
    độc đáo của ông là biết kế thừa cái hay của các thi sĩ đàn anh và vận
    dụng ca dao, tục ngữ. Điều làm nên tên tuổi Tú Mỡ là ông đã cười rất
    ác vào cái ông nghị... gật mà trước và sau ông chưa có ai vượt qua nổi!
    Trong tập sách này, chúng tôi còn viết về bác Ba Phi. Năm 2002,
    một hội thảo khoa học “Chuyện kể bác Ba Phi” được tổ chức tại Cà
    Mau với 36 tham luận của các học giả, nhà nghiên cứu trong cả nước.
    “Tựu trung mọi người đều nhất trí đánh giá chuyện kể của bác Ba Phi
    là một di sản văn hóa phi vật thể của Nam Bộ cần được trân trọng gìn
    giữ cho muôn đời sau như ta đã gìn giữ chuyện Trạng Quỳnh, Trạng
    Lợn... trước đây. Các chuyện kể của bác Ba Phi bắt nguồn từ sự phong
    phú, giàu có của sản vật tự nhiên vùng U Minh những ngày đầu được
    người dân khai phá và bác Ba Phi chỉ là một người nâng bức tranh
    sản vật vô cùng phong phú ấy lên tầm thẩm mỹ văn học” (Báo Tuổi
    trẻ chủ nhật số ra ngày 8/12/2002). Tương tự, làm sao ta có thể quên
    được Vũ Trọng Phụng, nhà văn của nhiều tác phẩm hiện thực phê
    phán như Số đỏ, Giông tố... và nhiều tập phóng sự có giá trị hiện thực
    được phong tặng “Ông vua phóng sự đất Bắc”. Ngoài ra, khi viết tiếp
    những nhân vật lừng danh của thế kỷ XX, chúng tôi còn đề cập đến
    nhà triết học Trần Đức Thảo, người đã từng tranh luận thắng thế với
    nhà văn, nhà tư tưởng J.P. Sartre tại Paris và để lại nhiều tác phẩm
    triết học có giá trị. Là nghệ sĩ đa tài Văn Cao, người đã viết ca khúc
    bất hủ Tiến quân ca, được Quốc hội nước ta chọn làm Quốc ca. Là
    nhà dân tộc học Từ Chi, người đã dành tâm huyết một đời để nghiên
    cứu về văn hóa Mường, về làng xã Việt Nam đã có nhiều đóng góp to
    lớn mà học giả người Pháp là GS. Georges Condomimas đã đánh giá
    là “một nhà bác học lớn” của Việt Nam.
    Có thể khẳng định các nhân vật trên đều có những nỗ lực đáng
    quý, đáng trân trọng trong việc bảo vệ, phát huy di sản văn hóa của
    nước nhà bằng nhiều việc làm thiết thực, nghiêm túc và có giá trị lâu
    7

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    bền. Điều này có ý nghĩa không nhỏ khi chúng ta đang phấn đấu xây
    dựng một nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc. Do khuôn
    khổ tập sách có hạn nên chúng tôi sẽ tiếp tục đề cập đến nhiều danh
    nhân văn hóa khác trong những tập sau.
    Nhân đây chúng tôi xin được nhắc lại, bộ sách KỂ CHUYỆN
    DANH NHÂN VIỆT NAM do nhà thơ Lê Minh Quốc thực hiện đã
    phát hành các tập: Danh nhân quân sự Việt Nam, Danh nhân khoa
    học Việt Nam, Các vị Tổ ngành nghề Việt Nam, Danh nhân Sư phạm
    Việt Nam, Danh nhân văn hóa Việt Nam, Các vị nữ danh nhân Việt
    Nam, Những nhà cải cách Việt Nam, Danh nhân cách mạng Việt
    Nam, Những người Việt Nam đi tiên phong, Những nhà chính trị
    Việt Nam và sẽ còn phát hành các tập tiếp theo, mời các bạn tìm đọc.
    Để bộ sách thật sự hữu ích cho bạn đọc - nhất là các bạn thanh thiếu
    niên - chúng tôi rất mong được sự chỉ giáo, giúp đỡ chân tình của các
    học giả uyên bác, của các nhà sử học và của các bạn đọc xa gần để tập
    sách ngày một hoàn hảo hơn. Trước hết xin bạn đọc ghi nhận ở đây
    sự biết ơn sâu xa của chúng tôi.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    8

    TẬP 4: DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    Nguyễn Trãi
    Khí phách và tinh hoa của dân tộc

    Nắng gắt. Trên con đường
    mòn gập ghềnh, khúc khuỷu,
    những người tù lê từng bước
    chân mệt mỏi. Tiếng chim kêu
    khắc khoải. Tiếng thúc giục inh
    ỏi của đám cai tù. Tiếng roi vun
    vút quất xuống lưng người tù
    đến rớm máu. Rồi tiếng than
    khóc của thân nhân người tù nức
    nở vang lên. Tất cả tạo nên một
    âm thanh nặng nề, đau đớn. Cả
    hàng ngàn người tù băng rừng,
    lội suối lên ải Nam Quan. Bây
    giờ, họ đã đến nơi. Ngọn lau nơi
    vùng biên giới Hoa - Việt dường
    như trắng hơn, bạc hơn và cũng
    cứng cỏi hơn. Đoàn người được
    Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi
    (1380 -1442)
    dừng lại nghỉ ngơi để chuẩn bị
    vượt qua biên giới. Nhiều người
    khóc òa lên, họ biết chỉ trong giây lát nữa hình ảnh Tổ quốc chỉ mãi
    mãi còn lại trong ký ức. Trong đám lau trắng kia có ba cha con người
    tù đang ngồi. Người cha nghiến răng bảo đứa con lớn:
    9

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    - Hữu qui phục quốc thù khốc hà vi dã! Con là đứa có học, con
    hãy làm theo lời cha.
    Nghe cha nói, người con rưng rưng nước mắt. Thấy vậy, người cha
    vỗ vai con rồi ôn tồn:
    - Con hãy quay về tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha.
    Như thế mới là hiếu. Đi theo cha khóc lóc mới là hiếu hay sao?
    Lời khuyên răn của cha khiến người con như tỉnh ngộ, liền đưa tay
    chùi sạch những dòng lệ nóng và hứa sẽ thực hiện theo. Cha con chưa
    tâm sự được nhiều, bỗng tiếng tù và vang lên như dao xoáy vào lòng
    người. Họ bịn rịn chia tay. Nắng vẫn gắt. Không dám đứng nhìn cảnh
    em trai mình đang theo cha vượt qua biên giới, người con trai quay
    về. Tiếng chim vẫn kêu khoắc khoải...
    Sự việc này diễn ra vào tháng 6/1407 khi cha con Hồ Quý Ly bị
    giặc Minh đánh bại, chúng đã bắt một số triều thần nhà Hồ đưa về
    Trung Quốc. Người cha khuyên răn con những lời tâm huyết nói trên
    chính là Nguyễn Phi Khanh. Còn người con quay về để thực hiện lời
    dạy của cha là Nguyễn Trãi - sau này đã trở thành một nhân vật tiêu
    biểu cho tinh hoa và khí phách của dân tộc Việt Nam, “con người
    viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết mọi thời” (Lê Quý Đôn); con người
    mà “âvăn chương mưu lược gắn liền với sự nghiệp kinh bang tế thế”
    (Phan Huy Chú); con người “như một ông tiên trong tòa ngọc, có tài
    làm hay, làm đẹp cho Nước từ xưa chưa có bao giờ” (Nguyễn Mộng
    Tuân).
    Tổ tiên Nguyễn Trãi vốn quê ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn
    (nay là huyện Chí Linh, Hải Dương), sau chuyển về làng Ngọc Ổi
    huyện Thượng Phúc (nay làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Tây).
    Ông sinh năm 1380, có hiệu là Ức Trai. Cha ông là Nguyễn Ứng Long
    (tức Nguyễn Phi Khanh) và mẹ là Trần Thị Thái, con gái của Trần
    Nguyên Đán. Thuở hàn vi, Nguyễn Ứng Long làm nghề dạy học, được
    quan Tư đồ Trần Nguyên Đán mời về dạy học cho con gái. Cô học trò
    Trần Thị Thái yêu thầy và thường làm thơ Nôm trêu ghẹo. Chuyện
    này cũng thường tình, thầy trò cùng đang độ tuổi thanh xuân nên
    10

    TẬP 4: DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    tỏ ra quyến luyến cũng là điều dễ hiểu. Mối quan hệ này ngày càng
    khắng khít, chẳng bao lâu cô Thái có mang. Chuyện vỡ lở, Nguyễn
    Ứng Long bỏ trốn. Trong khi đó, biết sự tình này, quan Tư đồ Trần
    Nguyên Đán - chắt của danh tướng Trần Quang Khải - lại trầm tĩnh
    lạ thường. Ông cho người gọi Ứng Long về và bảo:
    - Người xưa cũng đã từng có như thế. Chắc anh biết chuyện Trác
    Văn Quân và Tư Mã Tương Như rồi chứ? Cũng từ tình yêu, vì tình
    yêu mà lưu danh đến đời sau. Nếu anh làm được như vậy là nguyện
    vọng của ta.
    Trước thái độ rộng lượng, phóng khoáng của Trần Nguyên Đán,
    Nguyễn Ứng Long ra sức học tập và thi đậu Thái học sinh (tiến sĩ).
    Nhưng do quy định khắt khe của triều Trần, con nhà thường dân dù
    lấy con gái hoàng tộc cũng không dùng đến. Có tài năng nhưng không
    được trọng dụng, ông lui về dạy học ở làng Nhị Khê. Nguyễn Trãi là
    đứa con trai của cuộc tình duyên phóng khoáng tuyệt vời ấy. Năm
    1400 Hồ Quý Ly phế bỏ vua Trần Phế Đế, lên ngôi, đặt quốc hiệu là
    Đại Ngu và mở khoa thi Thái học sinh. Nguyễn Trãi đậu ở khoa thi
    này và ra làm quan với nhà Hồ, được giữ chức Chánh Chưởng đài
    Ngự sử. Năm 1401, Nguyễn Ứng Long đổi tên là Nguyễn Phi Khanh
    ra làm quan với nhà Hồ, giữ chức Học sĩ Viện Hàn Lâm kiêm Tư
    nghiệp Quốc Tử Giám. Rồi nhà Hồ mất vào tay giặc Minh. Sau khi từ
    biệt cha ở ải Nam Quan, Nguyễn Trãi quay về với “mười năm phiêu
    bồng”. Trong suốt thời gian từ năm 1407 - 1416 sử sách chưa biết rõ
    Nguyễn Trãi ở đâu, có tài liệu cho rằng thời gian đó ông bị giam lỏng
    ở thành Đông Quan, và cũng có tài liệu cho rằng ông lưu lạc sang
    Trung Quốc. Sau thời gian đó, có tài liệu cho rằng ông đã xuất hiện tại
    đại bản doanh của nghĩa quân Lê Lợi vào năm 1416; và tham gia hội
    thề Lũng Nhai để chuẩn bị khởi nghĩa. Nhưng ngược lại, có tài liệu
    cho rằng mãi đến năm 1421, Nguyễn Trãi mới đến Lỗi Giang (Thanh
    Hóa) tìm gặp Lê Lợi - chủ soái của phong trào Lam Sơn để dâng tập
    Bình Ngô sách. Trong cương lĩnh cứu nước của Nguyễn Trãi có nói
    đến chiến lược “đánh vào lòng người” thay cho chiến lược “đánh vào
    thành” tức là đánh vào tinh thần và ý chí xâm lược của giặc. Ngoài ra,
    11

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    ông đã đề xuất chiến lược Giương làm cờ nhằm tụ tập bốn phương,
    đoàn kết mọi lực lượng kháng chiến của quần chúng trong cả nước.
    Từ đây biến mọi lực lượng này thành một lực lượng trực tiếp tham
    gia kháng chiến dưới ngọn cờ của nghĩa quân Lam Sơn. Nhờ vậy ban
    đầu lực còn yếu nhưng dần dần thế của nghĩa quân mạnh lên, có thể
    lấy yếu chống mạnh, lấy ít đánh nhiều. Sách lược bình Ngô của ông
    đã được anh hùng Lê Lợi đồng tình. Vì vậy ông đã được trao chức
    Tuyên phụng đại phu Hàn Lâm viện thừa chỉ, rồi được giữ lại bên
    cạnh Lê Lợi để cùng bàn mưu tính kế đánh giặc Minh.
    Trước lúc phất cờ khởi nghĩa, để gây niềm tin và tuyên truyền rộng
    rãi trong nhân dân, nghĩa quân Lam Sơn có mẹo dùng mỡ viết trên lá
    cây dòng chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”. Kiến theo vết mỡ
    đục dần và dòng chữ đó đã hiện ra khiến dân chúng đều tin rằng đó là
    chữ của thần nhân, nên đều
    một lòng hướng về nghĩa
    quân. Dưới ngọn cờ Lam
    Sơn, Nguyễn Trãi đã thay
    mặt Lê Lợi viết nhiều thư
    giao thiệp với tướng giặc,
    tất cả được tập hợp lại trong
    Quân trung từ mệnh tập - thể
    hiện rất rõ chiến lược và sách
    lược “mưu phạt tâm công”
    của Nguyễn Trãi. Đây là tác
    phẩm đã thể hiện năng lực
    của một nhà tư tưởng, nhà
    biện luận thiên tài. Ông vừa
    nêu bật cuộc kháng chiến
    chính nghĩa của nghĩa quân
    Lam Sơn, vừa tố cáo tội ác
    xâm lược của giặc, vừa kiên
    quyết đánh chúng nhưng
    Tượng thờ Nguyễn Trãi tại Lam Kinh
    cũng vừa khuyên chúng
    (Thanh Hóa)
    12

    TẬP 4: DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    đầu hàng... Tất cả đều nhằm mục đích kết thúc sớm cuộc chiến tranh
    để đỡ tổn thất xương máu.
    Cuộc kháng chiến chống quân Minh phát triển theo ba thời kỳ.
    Thời kỳ ở vùng thượng du Thanh Hóa (1418-1423) kết thúc bằng
    việc đình chiến. Nguyễn Trãi đã tiến hành cuộc đấu tranh ngoại
    giao để kéo dài thời gian hòa hoãn, tránh được mưu mô quỷ quyệt
    của giặc. Sau khi “bên ngoài giả thác hòa thân” để “bên trong lo rèn
    chiến cụ” thì nghĩa quân bước sang thời kỳ thứ hai. Đó là thời kỳ
    tiến đánh thành Nghệ An để mở rộng vùng giải phóng phía Nam
    theo kế hoạch của danh tướng Nguyễn Chích. Lúc nghĩa quân vây
    thành Nghệ An và đánh tan viện binh của Lý An, Nguyễn Trãi đã
    viết thư dụ Phương Chính giao chiến khi hắn cố thủ trong thành:
    “Ta nghe bậc danh tướng quý nhân nghĩa mà rẻ quyền mưu. Lũ mày
    thì quyền mưu cũng chẳng đủ, còn nói gì nhân nghĩa? Ngày xưa thư
    mày gửi đến cho ta thường cười ta núp ở chỗ núi rừng không dám ra
    giao chiến ở đồng bằng đất phẳng. Nay ta đã đến đây, ngoài thành
    Nghệ An đều là chiến trường cả. Mày bảo đó là núi rừng hay đồng
    bằng? Mày đóng kín cửa ngồi xó trong ấy, có khác gì mụ già không?
    Ta e lũ mày không trốn đâu khỏi cái nhục cân quắc”. Đúng như lý
    lẽ phân tích của Nguyễn Trãi, số phận của Phương Chính đã diễn
    ra như thế. Sau những chiến thắng vang dội - từ toàn phủ Nghệ An
    được giải phóng đến nền thống trị của giặc ở Thanh Hóa hoàn toàn
    sụp đổ - nghĩa quân Lam Sơn đã bước qua thời kỳ thứ ba. Đó là thời
    kỳ phát triển cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trên quy mô cả
    nước và kết thúc cuộc chiến tranh. Nguyễn Trãi đã góp phần không
    nhỏ bằng đường lối ngoại giao kiên trì, khôn khéo. Ông đã phân tích
    cho chúng thấy nguy cơ thất bại như trong thư gửi Vương Thông
    năm 1427: “Nay tính hộ các ngươi có sáu điều phải thua:
    - Nước lụt chảy tràn, tường rào đổ lở, lương cỏ thiếu thốn, ngựa
    chết quân ốm. Đó là điều thua thứ nhất.
    - Xưa Đường Thái Tông bắt Kiến Đức mà Thế Sung ra hàng. Nay
    những nơi quân ải hiểm yếu, vừa quân vừa voi của ta đóng giữ đầy
    13

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    đủ, viện binh có tới thế nào cũng thua. Viện binh mà đã thua thì lũ
    các ngươi tất bị bắt. Đó là điều phải thua thứ hai.
    - Ở nước các ngươi, quân mạnh ngựa tốt nay đóng cả miền Bắc để
    phòng bị quân Nguyên, không rỗi chuyển về Nam được. Đó là điều
    phải thua thứ ba.
    - Luôn động can qua, liên tiếp đánh dẹp, người sống không vui,
    nhao nhao thất vọng. Đó là điều phải thua thứ tư.
    - Gian thần chuyên chính, chúa yểu giữ ngôi, xương thịt hại nhau,
    gia đình sinh biến. Đó là điều phải thua thứ năm.
    - Nay ta dấy binh, trên dưới cùng lòng, anh hùng thí sức, sĩ tốt
    càng luyện, khí giới càng tinh, vừa cày ruộng vừa đánh giặc. Còn
    bọn mày trong thành mệt mỏi, chuốc lấy diệt vong. Đó là điều phải
    thua thứ sáu”.
    Nói như nhà bác học Phan Huy Chú thì những lá thư dụ hàng của
    thiên tài Nguyễn Trãi đã “có sức mạnh như mười vạn quân”. Những
    chiến công lừng lẫy ở Chúc Động - Tốt Động (1426), ở Chi Lăng Xương Giang (1427) là kết quả của tấn công quân sự dưới sự chỉ huy
    của anh hùng Lê Lợi và đường lối “mưu phạt tâm công” của Nguyễn
    Trãi. Thật lạ lùng cho dân tộc Việt Nam, một dân tộc yêu hòa bình,
    không bao giờ hiếu chiến, dù đang trên thế “sấm vang chớp giật, trúc
    chẻ tro bay” nhưng nghĩa quân Lam Sơn vẫn sẵn sàng mở đường cho
    chúng rút lui an toàn và giữ thể diện triều Minh. Nguyễn Trãi viết:
    “Nếu như muốn kéo quân về nước thì cầu đường sửa xong, thuyền
    ghe sắm đủ, thủy lục hai đường, tùy theo ý muốn, đưa quân ra cõi,
    yên ổn muôn phần”. Tư tưởng nhân nghĩa này đã được anh hùng Lê
    Lợi đồng tình, do đó, ngày 16/12/1427 ở phía Nam thành Đông Quan,
    Vương Thông phải tuyên thệ rút quân về nước:
    Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh
    Sửa hòa hiếu cho hai nước
    Tắt muôn đời chiến tranh
    Chỉ cần vẹn đất, cốt sao an ninh
    (Bài phú núi Chí Linh)
    14

    TẬP 4: DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    Tháng giêng năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, bỏ quốc hiệu
    Đại Ngu của Hồ Quý Ly lấy lại quốc hiệu Đại Việt. Nguyễn Trãi được
    ban tước Quan phục hầu và được ban quốc tính Lê Trãi. Vâng lệnh
    Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã viết tác phẩm Bình Ngô đại cáo một “áng
    văn hùng tráng suốt thiên cổ” (thiên cổ hùng văn). Các nhà sử học
    đều đồng tình ghi nhận Bình ngô đại cáo là Tuyên ngôn độc lập thứ
    hai, hàm ý bài thơ của Lý Thường Kiệt làm trong lần đánh giặc Tống
    năm 1077 là bản Tuyên ngôn độc lập thứ nhất và Tuyên ngôn độc
    lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Ba Đình ngày 2/9/1945 là bản
    cuối cùng. Người xưa đọc Bình Ngô đại cáo có cảm giác “đọc không
    chán miệng” (Phạm Đình Hổ), và cho rằng “Hùng văn trong thiên hạ
    không ai hơn được nữa, đó là sông Giang, sông Hàn trong các sông
    và sao Ngưu, sao Đẩu trong các sao vậy” (Tô Thế Huy), còn thời đại
    chúng ta và ngàn năm sau đều tự hào đó là khúc ca hùng tráng bất
    hủ của dân tộc:
    Từng nghe:
    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
    Như nước Đại Việt ta từ trước
    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
    Núi sông bờ cõi đã chia
    Phong tục Bắc Nam cũng khác
    Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một
    phương
    Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
    Nhưng hào kiệt đời nào cũng có...
    Thời gian này Nguyễn Trãi tiếp tục viết Phú núi Chí Linh, Lam Sơn
    thực lục, Hạ tiệp ca ngợi công đức của Lê Lợi đối với nền độc lập, tự chủ
    của dân tộc. Ngoài ra ông còn thay mặt vua để viết chiếu, thư từ giao
    thiệp với nhà Minh, về sau được tập hợp trong tập Ngọc đường di cảo
    tiếc rằng nay đã thất lạc. “Chủ đề hầu như xuyên suốt tập di cảo này
    15

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    là tinh thần tận tụy vì
    dân, coi “thương dân”
    là mục đích và nguyên
    tắc của mọi hành động
    cũng như suy nghĩ của
    kẻ trị nước, và lấy việc
    nhận thức sức mạnh
    “lật thuyền” của dân
    làm một phương châm
    tư tưởng để người làm
    cha mẹ dân tự răn mình
    trong mọi hành vi xử
    thế của họ” (Từ điển
    văn học, tập II, trang
    88). Năm 1433 Lê Lợi
    băng hà. Nguyễn Trãi
    viết văn bia Vĩnh Lăng
    “ghi thịnh đức vào đá
    để truyền mãi không
    mòn” công đức của Lê
    Lợi. Lê Thái Tông lên
    nối ngôi. Thời kỳ này
    triều Lê đang dần dần khủng hoảng, vì mâu thuẫn lục đục trong nội
    bộ giai cấp thống trị đã bắt đầu phát sinh. Biết không thể chung sống
    hoặc chống lại với những phe phái đang mưu toan lũng đoạn quyền
    chính nên năm 1439 Nguyễn Trãi xin cáo quan về nghỉ tại Côn Sơn.
    Thời gian này, tâm hồn ông không vui:
    Còn có một lòng âu việc nước,
    Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung.
    Do đó, sống trong cảnh “gió thanh hây hẩy gác vàng, người như
    một tiên ông trong tòa ngọc” nhưng lúc nào ông cũng đau đời và tóc
    bạc trắng: “Tóc hai phần bạc bởi thương thu - Tóc nên bạc bởi lòng
    ưu ái - Âu chi tóc đã bạc mươi phần” nhưng:
    16

    TẬP 4: DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    Bui chỉ có lòng trung hiếu cũ,
    Mài chẳng khuyết, nhuộm chẳng đen.
    Trong thời gian này ông đã hoàn thành tập thơ Quốc âm thi tập,
    phần lớn tập thơ này gồm 254 bài chủ yếu được sáng tác lúc ở Côn Sơn.
    Với tác phẩm này, về sau nhà thơ Xuân Diệu khẳng định đó là “tác
    phẩm mở đầu nền thơ cổ điển Việt Nam” và Nguyễn Trãi “là nhà thơ
    lớn”. Nhưng rồi, Nguyễn Trãi cũng không thể ở mãi nơi “Am quạnh,
    hương thiêu, đọc ngũ kinh”. Năm 1440, Lê Thái Tông thấy quyền lực
    của mình đang lung lay vì bọn gian thần nên vời ông ra nhậm chức trở
    lại. Ngoài chức vụ cũ, ông còn được phong thêm chức mới và được đặc
    trách hai đạo Đông, Bắc. Nhân dịp này ông dâng Biểu tạ ơn: “Quần
    ngôn mặc kệ kẻ gièm pha, thánh ý cứ bền tín nhiệm”. Điều này cho
    thấy trong quần thần vẫn còn kẻ “gièm pha” ganh ghét ông. Do đó,
    ông “Cảm mà chảy nước mắt. Mừng mà sợ trong lòng”.
    Rồi nỗi sợ hãi ấy thật sự đến với Nguyễn Trãi qua vụ án oan khốc
    “Lệ Chi Viên”. Ngày 1/9/1442, vua Lê Thái Tông đi duyệt võ ở Chí
    Linh, do là người đứng đầu cai quản miền Đông, Bắc nên Nguyễn Trãi
    có nhiệm vụ đón tiếp khi vua đến vùng này. Duyệt võ xong, vua đến
    nhà riêng của Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, sau đó về Đông Kinh. Khi đi có
    cả Nguyễn Thị Lộ - vợ lẽ yêu của Nguyễn Trãi, đang giữ chức Lễ nghi
    học sĩ trong triều - cũng theo hầu vua. Ngày 7/9/1442 xa giá của vua
    Lê Thái Tông về đến Trại Vải (tức Lệ Chi Viên) ở làng Đại Lại, huyện
    Gia Bình (nay thuộc huyện Gia Lương - Hà Bắc) để nghỉ lại. Không
    ngờ, tối hôm đó, nhà vua bị cảm và đến sáng thì băng hà. Tai họa đã
    đổ ập xuống đầu Nguyễn Trãi. Bọn gian thần nhân cơ hội này vu cáo
    Nguyễn Thị Lộ và Nguyễn Trãi dùng thuốc độc giết vua. Bị buộc tội,
    Nguyễn Thị Lộ nhảy xuống sông tự trầm. Ngày 19/9/1442 cả dòng họ
    Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc. Vị khai quốc công thần triều Lê đã rơi
    đầu vì chính cái triều đình mà ông đã đem toàn bộ tâm huyết để cống
    hiến. Phải đợi đến 20 năm sau, năm 1464 nỗi oan khuất này mới được
    giải tỏa. Vua Lê Thánh Tông - con Lê Thái Tông - đã xuống chiếu giải
    oan cho ông và nói: “Lòng dạ Ức Trai sáng vằng vặc như sao Khuê”
    (Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo) và truy tặng cho ông tước Tán
    17

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    trù bá. Ba năm sau, nhà vua lại xuống chiếu cho Trần Khắc Kiệm đi
    tìm di cảo thơ văn của Nguyễn Trãi - nhờ vậy một phần thơ văn mới
    được lưu lại. Rồi năm 1868 bản in Ức Trai di tập do Dương Bá Cung
    sưu tập trong gần 50 năm được khắc in. Với tác phẩm này, Nguyễn
    Năng Tĩnh cho rằng: “âVăn chương của tiên sinh tinh vi, thâm thúy,
    rộng rãi, chính đáng, cứng rắn, là tự tiên sinh rèn luyện và phát huy
    được. Tiên sinh vốn không có ý đúc chuốt văn chương, nhưng một
    khi lời nói thổ lộ đều sáng sủa đẹp đẽ, dồi dào, không cái gì có thể
    che lấp được”. Còn Ngô Thế Vinh khẳng định: “Công lao của ông đã
    không thể che giấu được thì thơ văn của ông còn lại, dù một mảnh
    giấy hay một chữ cũng không nên để bị tiêu tan trong chỗ khói tàn
    củi nát vậy”. Nói như Phạm Quý Thích thì công đức của Nguyễn Trãi
    để lại cho đời: “Công cao bằng núi Lam có nghìn ngọn chót vót”.
    Thật vậy, hậu sinh chúng ta có quyền tự hào về Nguyễn Trãi, một
    con người vĩ đại nhiều mặt trong lịch sử nước ta, là biểu hiện của tinh

    Tượng tôn vinh danh nhân Nguyễn Trãi tại Quebec ở Canada

    18

    TẬP 4: DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    Đền thờ Nguyễn Trãi tại Côn Sơn (Hải Dương)

    hoa và khí phách của dân tộc ta. Tương truyền, năm 1407 khi từ biệt
    cha ở ải Nam Quan - nơi cha ông là Nguyễn Phi Khanh và em ông là
    Nguyễn Phi Hùng bị đày sang Trung Quốc - Nguyễn Trãi đã đứng
    đó rỏ những giọt nước mắt thương khóc. Từng dòng lệ nóng chảy ra
    như suối. Sau này, khi nghĩa quân Lam Sơn quét sạch bóng giặc Minh
    xâm lược, để tưởng nhớ tấm lòng trung hiếu của người anh hùng dân
    tộc Nguyễn Trãi, nhân dân đã đào một cái giếng nơi Nguyễn Trãi đã
    đứng. Không ngờ, đào trúng mạch nước, giếng rất trong, nước rất
    ngọt. Từ đó, nhân dân vùng ải Bắc gọi giếng này là Giếng Nước Mắt.
    Phải chăng đây là một truyền thuyết nhằm chia sẻ với nỗi oan khuất
    của Nguyễn Trãi sau vụ án Lệ Chi Viên? Đó là nỗi hận mà dường như
    Nguyễn Trãi đã linh cảm được. Ông đã viết:
    Họa phúc có mầm đâu một buổi,
    Anh hùng để hận mấy nghìn năm.
    19

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Bây giờ, nỗi hận ấy đã đi qua. Tên tuổi Nguyễn Trãi trường tồn
    cùng non sông đất nước ta.
    Nhà nước ta đã tổ chức long trọng lễ kỷ niệm nhân 600 năm ngày
    sinh của ông. Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp
    quốc (UNESCO) đã quyết định tổ chức kỷ niệm ông một Danh nhân
    Văn hóa thế giới. Theo đánh giá của UNESCO, Nguyễn Trãi là người
    có đóng góp xuất sắc không chỉ cho văn hóa dân tộc mà còn cho sự
    phát triển văn hóa chung của nhân loại, là đại diện, biểu trưng cho
    một nền văn hóa thế giới đa bản sắc, vừa thấm đẫm văn hóa dân tộc,
    vừa thắm đượm tinh hoa văn hóa nhân loại.

    20

    TẬP 4: DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    Nguyễn Du
    Tiếng thơ vang vọng đất trời

    Cho đến thời điểm này, ba danh nhân văn hóa lừng danh của Việt
    Nam: Nguyễn Trãi (1380-1442), Nguyễn Du (1765-1820) và Hồ Chí
    Minh (1890-1969) đã được UNESCO công nhận là Danh nhân Văn hóa
    thế giới. Trong ba danh nhân này, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất
    thích Truyện Kiều của Nguyễn Du và Người thường vận dụng trong
    nhiều hoàn cảnh cụ thể. Trong Di chúc, Người viết: “Còn non, còn nước,
    còn người/ Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”; hoặc trong
    diễn văn kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam,
    Người nói: “Công ơn Đảng như bể rộng trời cao/ Ba mươi năm ấy biết bao
    nhiêu tình”; hoặc khi đón Tổng thống Xucácnô sang thăm nước ta: “Bây
    giờ mới gặp nhau đây/Mà lòng đã chắc những ngày thanh niên”. Rồi khi
    tiễn vị nguyên thủ quốc gia này lên máy bay, Người đã đọc câu Kiều:
    “Cánh hồng bay bổng tuyệt vời/ Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm”...
    Không riêng gì Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu Truyện Kiều mà hầu như
    người Việt Nam nào cũng yêu, cũng nhớ ít nhất dăm câu thơ Kiều của
    thi hào Nguyễn Du. Mà những câu thơ ấy đã ăn sâu vào trong máu
    thịt đến nỗi khi đọc câu thơ ấy, người ta không nhớ đến tác giả. Nhà
    thơ Tế Hanh có viết bài thơ “Bài học nhỏ về nhà thơ lớn” kể lại một
    kỷ niệm khi ông về huyện Nghi Xuân quê hương của thi hào. Lúc ông
    hỏi thăm một bà cụ nhà của Nguyễn Du nơi đâu thì bà cụ ngớ người
    ra: “Nguyễn Du nào tôi chẳng nhớ tên?”. Nhưng khi nói, đó là người
    viết kiệt tác Truyện Kiều thì bà cụ vội vã chỉ đường ngay và đọc luôn
    21

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Tượng thi hào Nguyễn Du tại khu lưu niệm Nguyễn Du (Hà Tĩnh)

    mấy đoạn thơ Kiều, kể luôn vanh vách về cuộc đời thăng trầm của
    Kiều. Từ đó, nhà thơ Tế Hanh ngẫm nghĩ: “Bà cụ không nhớ tên Nguyễn
    Du, có gì đâu đáng trách/ Một cái tên như bao cái tên thường/ Nhưng cụ đã
    gửi lòng trong áng sách/ Theo dõi đời Kiều từng đoạn từng chương.../ Cuộc
    gặp gỡ tình cờ đem cho tôi bài học/ Như thể qua hai trăm năm nhà thơ nhắn
    lại bây giờ/ -Hãy đi con đường vào trái tim bạn đọc/ Người ta có thể quên
    tên người làm thơ, nhưng đừng để quên thơ...”.
    Theo thông báo của Hội đồng Hòa bình thế giới số ra tháng
    12/1964, trong phiên họp tại Berlin (Cộng hòa Dân chủ Đức) từ ngày
    6 đến ngày 9/12/1964, Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới đã chính
    thức quyết nghị kỷ niệm 200 năm năm sinh thi hào Nguyễn Du trong
    năm 1965, cùng với 8 danh nhân văn hóa khác trên thế giới: Nhà thơ
    Quintus Horatius Flaccus (La Mã) trước công nguyên; nhà thơ Dante
    Alighieri (Ý); nhà thơ Lomonosov (Nga); nhà thông thái Ai Hayssam
    (Ả Rập); nhà cải cách xã hội Jan Hus (Tiệp Khắc); nhà soạn nhạc
    Sibelius (Phần Lan); nhà thơ Yeats (Ialăng) và nhà y học Finlay (Cu
    Ba).
    Bấy giờ trong hoàn cảnh đất nước còn chiến tranh nhưng cả hai
    miền Nam - Bắc đều tổ chức trọng thể đón nhận sự kiện vẻ vang này.
    22

    TẬP 4: DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    Tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng
    hòa đã ra quyết định số 135TTg/Vg thành lập Ban tổ chức kỷ niệm
    Nguyễn Du mà trưởng ban là ông Hoàng Minh Giám - Bộ trưởng Bộ
    Văn hóa Thông tin, cùng lúc Ban bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam cũng
    ra chỉ thị “Về việc kỷ niệm Nguyễn Du”. Tại miền Nam, trong vùng
    giải phóng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền
    Nam Việt Nam cũng thành lập Ban tổ chức kỷ niệm Nguyễn Du mà
    trưởng ban là bác sĩ Phùng Văn Cung. Trong vùng tạm chiếm, ngày
    3/10/1965 tại Sài Gòn, giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch - Tổng ủy viên
    Văn hóa Xã hội kiêm Ủy viên Giáo dục của chế độ cũ đã đọc diễn văn
    khai mạc Tuần lễ kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du. Cùng lúc,
    nhiều nước như Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Tiệp Khắc, Rumani,
    Bungary, Ba Lan, Đức, Miến Điện, Cu Ba, Pháp v.v... cũng tổ chức kỷ
    niệm thi hào đất Việt với nhiều hoạt động phong phú và đây cũng là
    dịp Truyện Kiều được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.
    Trong lịch sử văn học Việt Nam, không có quyển sách nào có số
    phận lạ lùng như Truyện Kiều. Cho đến nay chưa ai có thể thống kê
    được tác phẩm này đã in đến lần thứ bao nhiêu, có bao nhiêu dị bản.

    Kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du tại miền Bắc (1965)

    23

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Và cũng chưa ai có thể thống
    kê được đã có bao nhiêu tập
    sách, bài viết nghiên cứu về
    Nguyễn Du và Truyện Kiều
    hoặc có bao nhiêu sáng tác
    của người đời sau đã lấy
    cảm hứng từ Nguyễn Du và
    Truyện Kiều.
    Nguyễn Du cất tiếng khóc
    chào đời tại kinh đô Thăng
    long (Hà Nội) tự Tố Như,
    hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu
    Hồng Lam liệp hộ. Dòng dõi
    Nguyễn Du quê gốc ở làng
    Canh Hoạch, huyện Thanh
    Oai, trấn Sơn Nam (nay Hà
    Tây) nhưng từ thế kỷ thứ XVI
    Áp phích trong lễ kỷ niệm 200 năm năm sinh
    Nguyễn Du tại miền Nam (1965)
    vì lý do chính trị nên tổ tiên thi
    hào phải chạy vào làng Tiên
    Điền, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) lập nghiệp và nổi tiếng thành đạt:
    Bao giờ ngàn Hống hết cây
    Sông Rum hết nước họ này hết quan
    Thân phụ Nguyễn Du là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm (1668-1776)
    là nhà thơ, nhà sử học lừng danh, từng giữ chức Tể tướng rồi làm
    Thượng thư bộ Hộ ngất ngưởng trên danh vọng, đó là một nhân vật
    mà trong Lịch triều hiến chương loại chí, nhà bác học Phan Huy Chú
    nhận xét: “Ông c...
     
    Gửi ý kiến

    Không có gì có thể thay thế văn hóa đọc

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC PHÚ CÁT - TP HUẾ !