BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    IMG_20210226_092255.jpg IMG_20210226_092242.jpg 15230796_1709875675996119_1329632988585197351_n.jpg

    Dạy bé các phương tiện giao thông | Vạn điều hay cho bé

    hay-tra-loi-em-tai-sao-tap-05

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 08h:24' 05-03-2024
    Dung lượng: 3.6 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM

    Hãy trả lời em tại sao?. T.5 / Đặng Thiên Mẫn d. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
    248tr. ; 19cm.
    1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Đặng Thiên Mẫn d.
    001 -- dc 22
    H412

    đặng thiền mẫn dịch

    4

    Chương 1

    Loài vật
    sống như thế nào?

    1

    Loài vật có thể hiểu nhau không?

    Nếu “hiểu” ở đây có nghĩa là cảm thông, nắm được cái “ý”
    của nhau qua thanh âm, cử chỉ... thì câu trả lời là CÓ! Nếu
    có nghĩa là trò chuyện với nhau, trao đổi cho nhau tình ý
    của mình - như con người đã làm - thì câu trả lời là KHÔNG!
    Ngay với con người, ngôn ngữ không phải là phương
    tiện truyền thông duy nhất. Ta có cách và có thể biểu đạt
    sự giận dữ bằng lời nói lớn và gay gắt, bằng điệu bộ hung
    hăng, bằng nét mặt, sắc diện... Ta nhún vai để biểu đạt sự
    coi thường, sự không chấp nhận. Ta lắc đầu hay gật đầu
    để biểu lộ sự bất ưng hay ưng thuận... Nghĩa là bằng nhiều
    cách lắm. Trong khi đó, những thanh âm và cử chỉ của loài
    vật thì rất nghèo nàn. Có thể có nhiều ý, tình chỉ được biểu
    đạt chung trong một tiếng hót, tiếng gầm, hay một điệu bộ.
    Khi gà mẹ lớn tiếng “túc túc” và xòe cánh ra thì lũ gà
    con hiểu đó là hiệu báo của sự đe dọa nguy hiểm. Khi một
    con ngựa hí và vỗ móng xuống đất thì những con ngựa
    5

    khác nhận ra được “điệp thư”. Một số giống vật có thể theo
    những dấu chỉ mong manh hoặc dấu hiệu mơ hồ do con
    vật khác phát ra. Khi có một con chim bay vụt lên cành cây
    cao chỉ để mở rộng tầm quan sát thì các con khác không
    bay lên theo hoặc không chuyển dịch. Nhưng khi bay lên
    theo cách nào đó, cả bầy nhìn thấy đó là dấu hiệu phải bay
    đi, là cả bầy bay đi.
    Giống chó có khá nhiều cách. Nó không chỉ sủa mà
    còn tru, gầm gừ, ư ử, rên rỉ. Nó có thể nhe răng, chĩa vuốt,
    cào. Các con chó khác hiểu được ý nghĩa của những âm,
    những điệu bộ đó.
    Loài vật truyền thông cho nhau không chỉ bằng âm thanh,
    cử động mà còn bằng mùi. Hầu hết giống vật sống thành
    bầy đều dựa vào mùi để quần tụ với nhau. Và ta đã quá rõ
    là giống chó có tài ngửi mùi thính như thế nào.
    Khỉ được coi là thông minh nhất trong loài vật. Vậy mà
    thật sự chúng cũng chẳng có “ngôn ngữ” rành rẽ hơn loài
    vật khác. Chúng có thể phát ra nhiều âm, nhiều thanh và

    6

    dùng được cả nét mặt để truyền thông sự giận dữ, sự đói
    khát, sự vui khoái. Nhưng chúng không có được ngôn ngữ
    như con người.
    Khác với loài người có thể học nói, học một thứ ngôn ngữ
    khác, loài khỉ và các loài vật khác không cần học, nhưng do
    bản năng, có thể “nói” được ngôn ngữ của loài nó. Chúng
    có thể bắt chước - và khá giống - một vài âm hoặc thanh
    hoặc cách biểu đạt nào đó không phải là của riêng chủng
    loại nó.
    Tuy nhiên, loài chim có thể học cách hót, ít ra phần nào.
    Con chim sẻ bay lộn trong bầy chim yến đã cố để hót như
    chim yến. Nó đang học lộn tiếng chăng?

    2

    Loài vật có biết cười,
    biết khóc không?

    Nếu có một con vật cưng - như con chó, con mèo chẳng
    hạn - có lẽ bạn sẽ quyến luyến nó, lần lần bạn cảm thấy nó
    cứ như “người” vậy. Nghĩa là bạn bắt đầu tưởng nó biết biểu
    cảm theo cách con người như khóc, cười.
    Bạn tưởng vậy mà hóa ra không phải vậy. Khóc, cười
    là cách biểu cảm đặc trưng của con người mà không một
    loài vật nào có thể có được. Tất nhiên, bạn biết, con vật
    có thể rên rỉ, thút thít khi nó bị thương, nhưng nhỏ lệ để
    biểu cảm những nỗi đau đớn, xót xa thì không, không thể.
    7

    Nói vậy không có nghĩa là loài vật không có tuyến nước
    mắt. Nhưng nước mắt ấy chỉ để dùng rửa mắt, rửa giác mạc
    mà thôi. Muốn khóc, con vật phải biết suy nghĩ và có cảm
    cảm xúc như con người đã. Ngay cả đứa hài nhi cũng chỉ
    biết khóc khi nó học được cách nghĩ, cách cảm. Hài nhi
    “kêu” oe oe không có nghĩa là hài nhi đó biết khóc.
    Khóc là một cách biểu cảm thay cho nói. Khi ta cảm
    thấy ngôn ngữ không đủ để biểu cảm cái ta cảm thấy,
    thì ta khóc. Thật ra, khóc là một phản xạ mà nhiều khi ta
    không thể chủ động, và phản xạ ấy giúp ta “phóng ra” cái
    ta cảm thấy.
    Cười cũng là một biểu hiện đặc trưng của con người.
    Có vài giống vật cho ta cái cảm tưởng chúng cười, nhưng
    dứt khoát đó không phải là cái cười của con người. Lý do
    là con người luôn luôn cười một cái gì, nghĩa là cái cười
    luôn luôn hàm chứa một yếu tố tinh thần và cảm tính hay
    cái cười chính là cảm xúc được phát tác. Loài vật không
    sao có được một quá trình tâm linh hay cảm xúc được.
    Chẳng hạn khi nghe một
    câu chuyện khôi hài ý nhị
    hay nhìn một điệu bộ tức
    cười, tinh thần hoặc cảm
    xúc làm cho nó xem ra
    đáng buồn cười. Thật ra có
    nhiều lối cười và nhiều lý do để
    cười. Chúng ta cười những vật,
    8

    những điệu bộ (một bà mập ú đi lạch bạch như con vịt bầu,
    một cái dù nhỏ xíu, một anh hề) hay nghe một câu chuyện
    tiếu lâm. Chúng ta cũng có thể cười chế nhạo, cười khinh bỉ.
    Các nhà tâm lý học cho rằng cười là một hiện tượng xã
    hội. Ta cười khi ta là một thành phần của một nhóm thấy
    một cái gì đáng cười. Có những cái mà người Âu thấy rất
    tức cười nhưng người Á Đông thì không, và ngược lại. Loài
    vật, dù có sống thành đoàn lũ cũng không thể cười, vì bất
    cứ lý do gì.

    3

    Loài vật có vị giác không?

    Vị giác là một trong những nguồn gốc của cảm giác
    sướng khoái của con người. Nó làm cho ta ăn biết ngon.
    Tuy nhiên, vị giác không phải chỉ giúp cho ta cảm thấy cái
    ngon mà chủ yếu vị giác là để bảo vệ ta. Nó thường tránh
    cho ta ăn phải cái độc hại.
    Quá trình hoạt động của vị giác diễn ra như thế nào?
    Nó là một khả năng tri giác các tác động mạnh của phân
    tử. Những phân tử vận động kích thích thần kinh vị giác
    và ta “xác minh” cái được thông tri cho ta qua vị giác. Ta
    chỉ xác minh được các chất hòa tan trong các dung môi,
    vì trong dung môi, các nguyên tử mới có thể chuyển động
    thoải mái. Bởi vậy, đố ai biết được tấm kiếng thủy tinh kia
    chua hay ngọt? Bất cứ thứ gì làm cho các phân tử chuyển
    9

    động mạnh hơn thì càng tác động mạnh hơn vào vị giác.
    Đó là lý do tại sao nếm một vật nóng ta lại dễ cảm nhận
    vị giác của nó hơn là lúc nó nguội.
    Vị giác trước hết được tiếp nhận bởi những cái “gai thịt”,
    thực chất là các dây thần kinh được cấu tạo giống như cái
    gai. Nhưng gai này có khả năng đặc biệt là tiếp thu những
    kích thích mà ta gọi là vị.
    Nơi con người cũng như nơi loài vật, các gai này nằm trên
    lưỡi. Số lượng gai nhiều hay ít tùy nhu cầu của từng giống,
    loài. Con người chẳng hạn chỉ có vị giác ở mức trung bình.
    Trên lưỡi người có khoảng 3.000 cái gai như vậy. Loài cá voi
    nuốt chửng cả thúng cá. Nhưng vì chúng nuốt chửng chứ
    không nhai nên lưỡi chúng chẳng có cái gai nào. Đố bạn biết
    trong gia súc, giống nào có vị giác tinh tế nhất - tinh tế hơn
    cả con người nữa? Thiệt ngộ, con heo đấy. Trên lưỡi heo có
    tới 5.500 gai vị giác. Tuy nhiên, đáng kinh ngạc phải là con
    bò. Bạn thử đoán xem số gai vị giác trên lưỡi bò bằng bao
    nhiêu lần so với lưỡi người? Trên mười lần, nghĩa là, lưỡi bò
    có khoảng 35.000 gai vị giác. Nhưng lưỡi bò vậy mà vẫn còn
    thua lưỡi linh dương. Lưỡi linh dương có tới 50.000 gai vị
    giác. Như vậy, ta thấy vị giác không phải là độc quyền của
    con người mà con vật cũng có. Hơn thế nữa, nhiều giống
    vật còn có vị giác tinh tế hơn vị giác con người nữa kìa.
    Loài người và loài vật tiếp thu vị của thức ăn bằng lưỡi
    chớ không bằng “cùi chỏ” hay bằng da. Ấy thế mà hầu hết

    10

    các sinh vật biển lại có thể “nếm” bằng da trên toàn thân,
    bởi vì trên toàn thân phía ngoài của nó đều có gai vị giác
    phủ kín. Cá chẳng hạn, chẳng những toàn thân mà ngay
    cả cái đuôi cũng được gai vị giác phủ kín luôn. Côn trùng
    biết bay thì dùng... chân để nếm thực phẩm. Khi những
    cái chân con bướm đặt lên một nhụy hoa ngòn ngọt là
    cái vòi của nó biết liền và hút nhụy liền.
    Rắn và các giống bò sát dùng lưỡi để nếm thật đấy.
    Nhưng cách nếm của nó khác với cách nếm của con người.
    Lưỡi rắn “đụng” vào một vật liền “cướp” lấy một ít phân tử
    của vật ấy, đưa nhanh vào phía hàm trên của miệng nó.
    Tại đó có “nhà máy” phân tích, phân loại, đánh giá vị của
    vật bị nó nếm nhanh như chớp. Tất cả các động tác: cướp,
    đưa vào hàm trên, phân tích, nhận ra... xảy ra nhanh đến
    nỗi gần như đồng thời.

    4

    Loài vật có phân biệt được màu
    sắc không?

    Con người mở mắt ra nhìn: thế giới hiện ra đủ sắc màu.
    Bất cứ vật gì cũng có một màu nào đó. Nhưng các sinh
    vật khác dường như không được hưởng cái đặc ân nhìn
    thấy cả một thế giới sặc sỡ, rực rỡ màu sắc như con người.
    Nhưng dựa vào đâu mà ta có quyền “tội nghiệp dùm cho”
    các sinh vật khác như vậy. Biết đâu nó lại nhìn được màu

    11

    sắc mà ta không nhìn thấy được, cũng như nó nghe được
    những âm ba mà tai ta không nghe được?
    Các nhà khoa học đã làm nhiều thí nghiệm để thuyết
    phục ta. Người ta đã thử bằng hàng trăm cách khác nhau
    xem con ong có phân biệt được màu sắc không, bởi vì ta
    muốn biết xem khi đi hút mật, ngoài mùi vị của nhụy hoa,
    ong có biết phân biệt màu sắc của hoa không. Người ta
    thí nghiệm bằng cách phết sirô lên một miếng giấy màu
    xanh và để bên cạnh đó một miếng giấy màu đỏ nhưng
    không có sirô. Lát sau ong bay đến miếng giấy màu xanh
    mà không chú ý đến miếng giấy màu đỏ. Kế đó, để miếng
    xanh và đỏ rời thật xa nhau thì ong vẫn bu đến miếng giấy
    xanh dù lúc này không phết sirô nữa. Điều này chứng tỏ
    ong có phân biệt được màu sắc.
    Có hai điều đáng ngạc nhiên trong khả năng phân biệt
    màu sắc của loài ong. Một, con ong không nhìn được màu
    đỏ. Đối với nó, màu đỏ chỉ là màu xám sịt hoặc đen. Hai, con
    ong nhìn ra màu của tia cực tím mà con người thì không.
    Nhiều giống chim đực có màu sáng. Liệu các giống chim
    cái đồng loại có phân biệt được các sắc độ màu ấy không?
    Thí nghiệm với gà mái, người ta đã đi đến kết luận gà mái
    có thể phân biệt được hết các màu sắc của cầu vồng nghĩa
    là đỏ, lam, vàng, tím, lục - đủ cả. Chúng ta đều cho rằng
    chó là sinh vật tinh khôn. Và người ta thường dùng kiểu
    nói: “Đầu óc như đầu óc chim sẻ”, hoặc “Đầu óc như đầu

    12

    óc gà mái” để rủa nhau. Chó tinh khôn nhưng mù màu. Gà
    mái ngu độn nhưng phân biệt được ngũ sắc! Nhiều khi ta
    tưởng chó phân biệt được màu mà thực ra nó chỉ phân
    biệt được vật này với vật kia nhờ mùi, vị, hình dạng. Có lẽ
    mấy bà mấy cô lấy làm buồn vì chú chó cưng không phân
    biệt được màu sắc của bộ đồ diện đắt tiền, màu sắc sặc sỡ
    của mình. Đừng buồn, nhờ khứu giác rất tinh tế, chó cưng
    vẫn nhận ra chủ nhờ cái mùi độc đáo của mỗi bà, mỗi cô.
    Loài mèo hình như cũng bị mù màu nữa.
    Khỉ và tinh tinh có khả năng phân biệt màu rất tốt. Nhưng
    hầu hết các động vật có vú đều mù màu, kể cả con bò.
    Lý do mù màu của các động vật có vú bắt nguồn ở sự
    kiện là hầu hết chúng đều là những động vật săn mồi ban
    đêm cho nên không cần phân biệt màu sắc. Và như thế lại
    là điều hay cho chúng, vì nếu kẻ thù phân biệt được màu
    sắc của nó thì... “mệt lắm”, nguy lắm.

    5

    Tại sao động vật ngủ đông?

    Ta hãy lấy con “Woodchuck” làm điển hình cho giống
    vật ngủ đông để xem xét. Không giống với con sóc, con
    vật này không dự trữ lương thảo để dùng vào mùa đông,
    bởi vì, “Woodchuck” sống bằng lá cây. Mùa đông ở miền ôn
    đới cây trơ cành trụi lá. Vả lại lá xanh đâu có để lâu được.
    Nó héo, nó rữa đi chớ. Woodchuck làm gì có tủ lạnh. Thế là
    đành nhịn đói đi ngủ, nhưng nhịn đói cho hết mùa đông
    13

    thì chết còn gì. Ấy vậy mà Woodchuck vẫn sống phây phây,
    sanh con đẻ cái đùm đề, cho nên mỗi năm mỗi mùa đông
    có nghĩa là mỗi năm mỗi nhịn đói đi ngủ mà “Woodchuck”
    đâu có tuyệt chủng. Tất nhiên, để sinh tồn, Woodchuck
    phải có mánh riêng, độc đáo để dự trữ lương thực ngay
    trong cơ thể của mình. Thế là khỏi lo hư thối, khỏi lo bị
    trộm cắp. Dự trữ bằng cách nào? Mùa hè, có nhiều thức
    ăn, Woodchuck ăn thật nhiều, béo núc. Khi mùa đông đến,
    đào cái hang cho sâu, chui xuống đó, ngủ! Trong lúc ngủ,
    mỡ trong cơ thể đưa ra xài từ từ, đợi thời!
    Nhiều động vật có vú - như gấu chẳng hạn - không ngủ
    đông thật sự. Thật ra, vào mùa đông gấu ngủ nhiều hơn
    mùa hè, nhưng giấc ngủ không “sâu”. Dầu sao mùa đông
    cũng có những ngày ấm áp. Vậy là những ngày ấy gấu, sóc,
    chuột thức dậy và ra khỏi hang kiếm chút đỉnh.
    Lúc ngủ, những con vật ngủ đông hầu như chết. Và giấc
    ngủ đông cũng chẳng hề giống giấc ngủ thường. Lúc con
    vật ngủ đông, mọi sinh hoạt của nó hầu như ngưng lại.
    Thân nhiệt của chúng xuống thấp chỉ còn hơn nhiệt độ

    14

    trong hang của chúng chút ít. Bởi vậy, chúng “đốt” rất ít,
    rất chậm thực phẩm dự trữ trong cơ thể của chúng. “Đốt”
    ít thực phẩm, do đó ít cần tới oxy, do đó hơi thở chậm lại,
    do đó tim đập chậm và nhẹ hơn, chỉ hơi thoi thóp thôi.
    Nếu nhiệt độ trong hang xuống thấp quá, con vật sẽ thức
    giấc, đào hang cho sâu thêm nữa, rồi ngủ tiếp!
    Cái gì đã báo cho con vật ngủ đông mùa xuân đã đến?
    Nhiệt độ trong hang, độ ẩm, và... cái bao tử rỗng của nó.
    Thế là chúng tỉnh dậy, bò ra khỏi hang.
    Chắc bạn tưởng động vật máu nóng mới ngủ đông,
    còn động vật máu lạnh thì khỏi? Không! Con sâu đất chui
    sâu xuống đất ngay từ đợt sương giá đầu tiên. Ếch nhái tự
    chôn mình trong bùn dưới đáy ao. Rắn thì chui vào hang
    đào dưới đất hay trong các khe đá. Một vài giống cá như
    cá chép chẳng hạn cũng vùi mình dưới bùn. Ngay cả vài
    giống sâu bọ cũng ngủ đông bằng cách lẩn mình dưới
    hòn đá hoặc gỗ.

    6

    Trâu bò nhai... “trầu”?

    Từ thuở xa xưa, xa thăm thẳm, có nhiều giống vật đã
    không thể tự vệ một cách hữu hiệu trước kẻ thù mạnh hơn,
    dữ hơn. Để sống còn, những giống vật này bèn “phát minh”
    ra một lối ẩm thực độc đáo. Mỗi khi có thể được, chúng
    “ních” thật nhanh, thật nhiều vào bụng bằng cách nuốt

    15

    chửng, không nhai nhấm gì ráo, để rồi còn chạy cho kịp,
    kẻo kẻ thù tới. Đến nơi ẩn náu an toàn, có thì giờ, lúc đó
    chúng từ từ ói thức ăn nuốt vội ra để nhâm nhi, nhai lại.
    Lúc đó, chúng mới có thì giờ thưởng thức mùi vị thức ăn.
    Động vật nhai lại ngày nay chính là hậu duệ của những
    động vật nuốt chửng ăn vội mà ta vừa nói. Hầu hết động
    vật có vú rất hữu ích cho con người đều thuộc loài nhai
    lại, chẳng hạn như trâu, bò, cừu, dê, lạc đà, lạc đà Nam Mỹ
    (llama), hươu, sơn dương...
    Cái gì làm cho các giống vật này có thể nhai lại thực
    phẩm đã nuốt? Bao tử của động vật nhai lại khá phức tạp,
    gồm năm ngăn là: dạ cỏ, túi tổ ong, dạ lá sách, dạ múi khế
    và ruột non. Mỗi dạ này có chức năng riêng trong việc
    tái chế thực phẩm. Khi được nuốt chửng vào, thực phẩm
    được vò sơ sơ rồi đưa vào chứa trong dạ cỏ là ngăn rộng
    nhất của bao tử. Tại đó thực phẩm được làm cho ẩm và
    mềm rồi chuyển qua túi tổ ong. Tại đây thực phẩm được
    vo viên cỡ vừa phải.
    Sau khi ăn - nói đúng ra là nuốt chửng - con vật thường
    nằm xuống nghỉ ngơi đâu đó. Rồi từ từ, nó “ói” thực phẩm
    từ túi tổ ong ra miệng và nhai lần thứ nhất. Nhai xong
    nuốt trở lại và đưa vào dạ lá sách. Từ đây thực phẩm được
    chuyển qua dạ múi khế, ở đó quá trình tiêu hóa mới thực
    sự bắt đầu diễn ra. Cũng thuộc loại nhai lại, nhưng lạc đà
    không có dạ múi khế.

    16

    Bò không có răng hàm trên. Thay vì răng hàm trên, nướu
    biến thành một phiến liền, cứng. Chính cái “phiến” này đã
    đẩy cỏ xuống răng hàm dưới. Khi gặm cỏ, con bò cũng
    “ngậm” cho chặt theo cách này rồi dùng đầu lắc một cái
    để bứt cỏ.

    7

    Loài chó đã được thuần hóa từ
    lúc nào?

    Cách nay nhiều trăm ngàn năm, những bước đi của con
    ma mút khổng lồ còn làm rung chuyển mặt đất, lúc đó
    còn là rừng rậm. Con người sống trong hang, khoác lông
    da thú làm quần áo thì con vật đầu tiên làm bạn với con
    người là con chó.
    Thoạt tiên, chó đi theo con người trong các cuộc đi săn
    để ăn những đồ ăn dư thừa của con người. Rồi theo bản
    năng “kết bạn”, chó đã nhận con người làm “lãnh đạo” của
    mình. Con người cũng đã sớm dạy cho chó giúp mình trong
    việc săn, chở các đồ vật nặng và canh giữ bếp lửa chẳng
    hạn. Những việc này diễn ra từ rất lâu trước khi có lịch sử.
    Tất cả những điều vừa nói chỉ là những phỏng đoán dựa
    vào xương chó lẫn lộn vào xương người được tìm thấy
    trong hang của người tiền sử vào thời đồ đá.
    Vài nhà khoa học tin rằng giống chó nhà ngày nay là
    kết quả sự thuần hóa chó sói và chó rừng. Nhà khoa học
    17

    khác cho rằng chó nhà chỉ là hậu duệ của chó sói. Người
    khác cho là chó nhà chỉ là hậu duệ của chó rừng, chó sói
    “coyote”, chó “fox”. Nhưng phần đông cho rằng chó rừng
    và chó sói có cùng một tổ tiên xa xăm. Thuyết này giúp ta
    giải thích sự khác biệt về tầm vóc, ngoại hình của nhiều nòi
    chó và giải thích cả tập tính của chúng. Chó nhà thường
    xoay xoay quanh chỗ nó nằm trước khi nó nằm xuống. Cử
    động này là “thói quen” của tổ tiên xa xăm của chúng khi
    xưa khi còn là chó rừng: chúng đạp lá cỏ cho xẹp xuống để
    làm ổ ngủ. Một bằng chứng khác chứng tỏ chó rừng là tổ
    tiên xa xăm của chó nhà là vóc dáng của chó nhà đã được
    cấu tạo thích hợp cho việc chạy nhanh và dai. Những khả
    năng này kết hợp với sự thính mũi, thính tai là những tính
    chất chúng cần phải có mới sống nổi khi còn là chó rừng.
    Khi loài người ghi chép được lịch sử thì đã có chỗ nhắc
    tới con chó. Trong các mộ cổ của người Ai Cập cách nay
    5.000 năm đã có hình vẽ con chó. Người Ai Cập cổ coi chó
    là giống vật thiêng. Khi trong gia đình Ai Cập có một con
    chó chết thì cả gia đình đều thương tiếc.

    8

    Giống mèo được thuần hóa
    từ bao giờ?

    Giống mèo đã quẩn quanh, quấn quýt bên con người từ
    rất lâu rồi. Trong những hang có người tiền sử ở cách nay

    18

    hàng triệu năm, người ta đã tìm được các hóa thạch của mèo.
    Mèo nhà hiện nay là hậu duệ của mèo rừng, nhưng
    chẳng ai biết rõ thuộc nòi nào, vì mèo đã được thuần hóa
    cách nay đã hàng triệu năm rồi. Có lẽ những nòi mèo nhà
    trên thế giới hiện nay đều từ hai hay ba nòi mèo rừng đã
    sống trước kia ở Âu, Bắc Phi, Á từ hàng triệu năm trước.
    Phỏng đoán chính xác nhất là cách nay vào khoảng 5.000
    năm, con mèo rừng đầu tiên đã được thuần hóa. Cách nay
    4.000 năm người Ai Cập đã thuần hóa được mèo rừng. Nói
    đúng ra người Ai Cập cổ đã thờ mèo. Nữ thần Bast hoặc
    Pacht gì đó có đầu là đầu mèo, và đồ cúng được dâng cho
    mèo... thần!
    Mèo được hình dung làm nam và nữ thần Ra và Isis.
    Khi trong gia đình có mèo chết thì từ chủ cho đến tôi tớ
    trong nhà đều cạo lông mày và để tang. Một con mèo thờ
    trong đền bị chết thì cả thành phố để tang. Nhiều xác ướp
    mèo đã được tìm thấy. Các xác ướp này đã được tẩm liệm
    và ướp chẳng khác gì vua hoặc quý tộc. Kẻ nào giết mèo
    thì sẽ bị xử tử.
    Tuy nhiên ở châu Âu, có lẽ đến tận thế kỷ thứ 10 sau
    Công nguyên mèo mới được thuần hóa. Thời cổ ở châu Âu
    người ta có một thái độ đối với mèo khác hẳn với người
    Ai Cập. Họ coi mèo là ma quỷ chớ không phải thần linh.
    Quỷ thường được người Âu vẽ dưới dạng con mèo đen.
    Phù thủy thường được cho là đã lấy hình mèo.
    19

    Các nòi mèo khác nhau về vóc dáng, ngoại hình chẳng
    kém gì các nòi chó. Có lẽ dấu hiệu để dễ nhận ra hai nòi
    mèo khác nhau là mèo lông ngắn và mèo lông dài. Mèo
    lông dài nổi tiếng là mèo Ba Tư và mèo Angora.

    9

    Tại sao sư tử lại được gọi “chúa
    sơn lâm”?

    Trong suốt lịch sử loài người, sư tử vẫn được coi như
    biểu tượng của sức mạnh. Ta thường ví “mạnh như sư tử”.
    Người phương Tây gọi người có lương tâm là người có “trái
    tim sư tử”. Nhiều triều đình trên thế giới đã vẽ hình sư tử
    lên quốc huy, quốc kỳ để biểu dương quyền lực của mình.
    Sư tử được tôn vinh là chúa sơn lâm có lẽ chẳng phải
    vì không có con vật nào đánh bại được sư tử mà vì những
    kinh hãi mà sư tử đã gây ra cho loài người và loài vật.
    Người Ai Câp cổ cho rằng sư tử là linh vật. Ngay thời

    20

    Chúa Giêsu ra đời, nghĩa là cách nay gần hai ngàn năm, ở
    nhiều nơi trên châu Âu vẫn còn sư tử. Nhưng chỉ 500 năm
    sau, tại châu Âu, sư tử bị giết sạch. Ngày nay chỉ còn một
    vài vùng ở châu Phi và một vùng ở Ấn Độ là còn sư tử,
    nhưng cũng không nhiều.
    Sư tử cùng họ với mèo nhỏ. Chiều dài của sư tử trưởng
    thành vào khoảng 2,7 mét và nặng khoảng 200 đến 250
    kg. Sư tử đực lớn hơn sư tử cái. Nhìn dấu chân trên mặt
    đất, người thợ săn có thể nói đó là dấu chân của sư tử đực
    hay sư tử cái, vì bàn chân của sư tử đực lớn hơn. Thanh
    âm của sư tử là tiếng rống hoặc gầm. Khác với mèo, sư tử
    không gừ gừ. Sư tử trèo cây được nhưng ít khi nó sử dụng
    khả năng này, và cũng khác với mèo, sư tử không sợ nước.
    Nó còn có thể dầm mình trong nước. Thực phẩm của sư
    tử chính là các con thú khác, nhất là thú ăn cỏ. Bởi vậy, sư
    tử sống ở rừng thưa, rừng sa van chứ không sống trong
    rừng già, rừng rậm. Vì nó phải uống nước mỗi ngày nên
    nó phải sống ở gần nơi có nước.
    Ban ngày sư tử ngủ, ban đêm săn mồi. Sư tử sống riêng
    lẻ hay sống cặp, cũng có khi sống thành nhóm từ ba đến
    một chục con. Thực phẩm chủ yếu của nó là ngựa vằn, linh
    dương, sơn dương. Đôi khi sư tử cũng tấn công cả hươu
    cao cổ. Nhưng nó không tấn công voi, tê giác và hà mã.
    Khi nổi giận, sư tử chẳng thèm để ý đến những thú vật
    khác bởi vì nó dám chấp cả đám.

    21

    Khi đi săn, sư tử ẩn nấp rình con mồi đi ngang hay hống
    lên để hù làm nạn nhân “hết hồn” rồi nhảy ra, vút đuổi theo
    vồ. Khi đuổi theo như vậy tốc lực của sư tử có thể đạt tới
    60km/giờ, nhưng nó chỉ giữ tốc độ này trong cự ly ngắn.

    10

    Tại sao chim đực có bộ lông sặc
    sỡ hơn chim mái?

    Để trả lời câu hỏi đó, trước hết ta phải hiểu tại sao chim
    lại có màu sắc sặc sỡ đã.
    Người ta đã đưa ra nhiều cách giải thích về màu sắc của
    loài chim. Tuy nhiên, ngày nay khoa học vẫn chưa thu thập
    được hiểu biết đầy đủ về vấn đề này. Rất khó giải thích tại
    sao giống chim này có màu sắc sặc sỡ hoặc lợt, sáng mà
    giống chim kia lại có màu đậm tối? Có giống chim nhìn thì
    màu sắc lồ lộ, có giống thì rất khó nhìn ra. Người ta đã cố
    gắng nhiều để tìm ra quy luật chi phối vấn đề này.
    Quy luật thứ nhất là những giống chim phần lớn thời
    gian sống trên ngọn cây cao, sống nơi quang đãng hoặc
    trên mặt nước thì có màu sáng, lợt hơn giống chim phần
    lớn thời giờ sống trên mặt đất.
    Quy luật khác - với nhiều ngoại lệ - phần trên của chim
    có nhiều màu tối hơn phần dưới.
    Sự kiện này khiến các nhà điểu học tin rằng màu sắc
    chính là một phương tiện tự vệ của chim, để nó khó bị kẻ
    thù phát hiện. Màu sắc của giống chim dẽ chẳng hạn, nó
    22

    hoàn toàn “tiệp” với màu cỏ đầm lầy, nơi nó sinh sống. Màu
    lông chim dẽ gà hoàn toàn giống với màu lá rụng.
    Nếu màu sắc là phương tiện tự vệ thì chim nào - đực
    hay mái - cần sự tự vệ nhất? Con mái, vì nó phải ấp trứng.
    Vì vậy, thiên nhiên cho nó màu “tiệp” với màu sắc nơi nó
    nằm ổ, để kẻ thù khó phát hiện ra nó.
    Lý do khác giải thích màu sắc sáng và sặc sỡ của chim
    đực là để hấp dẫn con mái vào mùa sinh nở. Vào thời điểm
    này bộ lông con đực càng thêm sặc sỡ, rực rỡ để phô diễn
    với chim mái.

    11

    Chim hót để làm gì?

    Tiếng chim hót là một
    trong những thanh âm
    đáng yêu nhất của thiên
    nhiên. Những khi ta rong
    chơi ngoài đồng quê, nghe
    chim hót ta thấy dường
    như chim chóc đang gọi nhau, đang trò chuyện với nhau.
    Thật ra tiếng chim hót của loài chim chính là phương
    tiện truyền thông của chúng, cũng như tiếng kêu, tiếng
    tru, tiếng gầm... của các động vật khác. Tất nhiên, trong
    tiếng hót của chúng có thanh âm chỉ là những biểu hiện
    của sự sảng khoái, vui thú. Nhưng hầu hết các tiếng hót
    23

    đều là những “điệp thư” bằng âm thanh, thể hiện những
    cảm thông, truyền đạt các tin tức.
    Con gà mái “cục cục” hoặc là “quác quác” để báo động
    cho lũ gà nhép tình hình hiểm nghèo, để lũ gà nhép mau
    chạy lẹ lại nằm im trong đôi cánh ấp ủ chở che của gà
    mẹ. Nó cũng cục cục để gọi con đến ăn cái mà nó vừa
    kiếm được. Bầy chim phi hành ban đêm, chúng vừa bay
    vừa kêu lên. Tiếng kêu đó để bầy chim không bị tán lạc
    hoặc nếu có con nào bị lạc thì định hướng tiếng kêu đó
    mà bay nhập đàn.
    Ngôn ngữ của loài chim tất nhiên là khác với ngôn ngữ
    loài người. Ta dùng ngôn ngữ để biểu đạt ý tưởng. Loài
    người không nói một ngôn ngữ theo bản năng. Con gà
    không cần phải học mới biết gáy, không như con người
    phải học mới biết nói, dù là tiếng mẹ đẻ. Khả năng hót của
    chim là bản năng bẩm sinh.
    Trong một phòng thí nghiệm, con gà vừa ra khỏi vỏ
    trứng đã được đem đến nuôi ở một nơi nó không thể nghe
    một tiếng gà trống hoặc gà mái nào, vậy mà con gà này
    cũng biết kêu “chích chích” như những con gà khác. Lớn
    lên nó cũng biết gáy nếu là gà trống hoặc cũng biết cục
    tác nếu là gà mái.
    Điều này không có nghĩa là chim không thể học hót.
    Thật ra một vài giống chim đã bắt chước được tiếng hót
    của giống chim khác. Một giống chim có tên là “chim nhái”
    24

    vì nó có thể nhái tiếng hót của nhiều giống chim khác. Nếu
    để chim se sẻ sống chung với chim yến thì nó cũng sẽ tập
    hót như chim yến. Nếu đem chim yến cho sống chung với
    chim sơn ca, nó sẽ mau lẹ bắt chước tiếng hót của chim
    sơn ca. Ai cũng biết là mấy con nhồng, con két bắt chước
    những âm thanh chúng nghe được kể cả tiếng xe thắng
    “két, két”. Vậy có thể nói loài chim sinh ra là đã có thể hót
    theo bản năng, không cần học, đồng thời có thể bắt chước
    tiếng hót của giống chim khác.
    Một câu hỏi đau đầu: cùng một giống chim - chim sẻ
    chẳng hạn - sống ở hai địa phương cách xa nhau, như Hoa
    Kỳ và Anh chẳng hạn - có hót giống nhau không, hay chúng
    cũng có thổ âm, thổ ngữ như người? Có! Cùng một giống
    chim, có “một vài” tiếng hót mà chim sống ở địa phương
    khác không hiểu. Điều này chứng tỏ rằng thêm vào những
    tiếng hót theo bản năng chủng loại, chim có thể học thêm
    đôi ba tiếng hót mới lạ khác.

    12

    Nhờ cái gì mà vịt có thể
    nổi trên mặt nước?

    Tiếng Anh, từ “duck” chỉ thị tất cả các động vật có lông
    vũ chỉ sống hay có thể sống trên môi trường có nhiều nước.
    Nó gồm đủ chủng loại từ con vịt, con le le, con thiên nga
    cho đến con vịt trời. Họ nhà “duck” gồm các loại chim nước

    25

    như thiên nga, ngỗng, vịt nhà, vịt mỏ nhọn, fishing duck,
    tree duck, dabling duck, diving duck, ruddy duck...
    Hầu hết các giống “vịt” (duck) hoang hay “vịt trời” bên
    Hoa Kỳ đều sống ở vùng bờ biển Canada lên phía Bắc cho
    đến hết vành đai cây xanh (từ vành đai này trở lên là địa
    cực, cây không mọc được mà chỉ có vài loại rêu là mọc
    được - ND) đến miền Viễn Bắc Canada. Chỉ trong mùa đông
    chúng mới bay đi trú đông tại các vùng ấm áp miền Nam.
    Và cũng chỉ ở một thời gian ngắn. Ngay khi băng ở phía
    Bắc bắt đầu tan thì chúng đã đoàn lũ thê tử bay về quê
    hương lạnh lẽo, nơi có vô số đầm lầy, hồ, ao...
    Nước đá không thành vấn đề lắm đối với “vịt trời”. Lý do
    khiến chúng có thể nổi lên trên mặt nước lạnh lẽo như vậy
    là bộ lông phía ngoài của chúng không thấm nước. Tuyến
    ở phía đuôi vịt cung cấp cho chúng một thứ dầu nhờn mà
    chúng phết hết lên phía ngoài bộ lông. Dưới lớp lông này
    còn một lớp lông khác dày hơn phủ kín da. Ngay cả mấy
    cái màng móng cũng được bảo vệ để khỏi bị lạnh. Ở màng
    đó không có mạch máu hay thần kinh nên nó không cảm
    thấy lạnh chân.
    Chân và cẳng “vịt trời” được bố trí sao cho có thể thò
    dài ra xa với thân nên rất thuận tiện cho việc bơi. Chân
    cẳng như vậy nên ở trên cạn, chúng đi núng na núng nính.
    Chúng bay cũng lẹ lắm. Với lộ trình ngắn, chúng có thể đạt
    tốc độ 110km/giờ.

    26

    Hầu hết “vịt trời” làm tổ trên cạn, nhưng gần bờ nước.
    Tại đó, chúng ấp trứng bằng cái ngực mềm và ấm của
    chúng. Cái tổ, chúng làm khéo đến nỗi con mái có rời khỏi
    tổ chốc lát trứng cũng không bị lạnh. Vịt trời đẻ một lứa
    từ sáu đến mười bốn trứng và ấp trứng là việc riêng của
    con mái, con trống không biết tới.
    Sau mùa sinh đẻ, vịt trời rụng lông. Vì vậy trong thời
    gian này vịt trời không bay được. Để tự vệ, chúng nằm im
    re để không gây sự chú ý của kẻ thù.
    Trên thế giới có khoảng 160 chủng loại và trên lục địa
    nào cũng có vịt trời thuộc một chủng loại nào đó. Đặc biệt,
    lục địa Nam cực không có vịt trời.

    13

    Lẽ nào cá mà biết bay?

    Có cá “bay”, vỗ “cánh” đàng hoàng! Có điều nó bay không
    giống với chim bay. Và không có giống cá nào có thể bay
    theo kiểu như chim được. Nhưng “lao” lên không khí, vỗ
    “cánh” một chặp, bay được một quãng ngắn ngắn rồi lại
    rớt xuống, nếu gọi như vậy là “bay” thì quả thật là có cá
    bay. Cái “cánh” của cá bay thật ra chỉ là cái vây trước rộng,
    lớn so với thân cá. Khi bay nó giương cặp vây ấy ra cho
    xòe nằm ngang với thân. Có trường hợp cá còn giương cả
    cặp vây sau nữa.
    Cá bay lên không khí bằng cách bơi thật nhanh trên
    27

    mặt nước với một phần thân nhô lên khỏi mặt nước. Nó
    bơi như vậy một quãng lấy trớn, đuôi quẫy thật mạnh. Rồi
    nó giương vây giữ cho ngay đơ và tốc độ của cử động của
    nó sẽ nâng nó lên không khí.
    Cá có thể “bay” mỗi lần như vậy được vài trăm mét mới
    rớt xuống. Khi có sóng lớn, lúc là là xuống gặp ngọn sóng
    cao, có thể mượn ngọn sóng lấy trớn vọt lên nữa. Cứ như
    vậy, cá có thể bay một khoảng rất xa mà không rớt xuống
    mặt nước. Đó là bay xa. Còn bay cao? Các tàu buôn khổ
    vì nó. Bởi nó có thể phóng lên tới boong tàu. Mà cá ấy thì
    không ngon, nên chẳng ai ham, chỉ tổ mất công quét nó
    xuống biển trở lại mà thôi.

    14

    Tại sao cá hồi phải lội ngược
    dòng nước mới đẻ trứng được?

    Tạo vật có nhiều cách để sinh đẻ, tự vệ và bảo tồn nòi
    giống thật lạ lùng khiến ta phải kinh ngạc. Những cách
    28

    làm tổ của một vài giống chim hoặc cách một vài giống
    vật chiến đấu để bảo vệ đám con của mình thật lạ lùng.
    Bản năng đã khiến con cá hồi phải làm một cuộc hành
    trình ngược dòng. Bởi vì đó là cách tốt nhất để cá hồi con
    ra chào đời và tăng trưởng. Không phải tất cả mọi con cá
    hồi đều phải ngược lên đến tận đầu sông, ngọn suối để
    sinh đẻ. Có nhiều con ghé ngay vào một nhánh sông phía
    dưới. Cá hồi lưng gù thuộc loại này. Nó đẻ ngay ở cửa sông,
    cách chỗ nước mặn vài dặm. Nhưng cũng có cá hồi thuộc
    loại chúa trùm. Nó lội ngược lên đến ngọn nguồn cách
    biển tới 3.000 dặm. Trước khi đi đến vùng nước ngọt, cá
    hồi như được sống trong điều kiện thoải mái mạnh khỏe,
    mập ra. Nhưng ngay khi vào đến nơi, cá hồi bắt đầu nhịn
    ăn. Đôi khi chúng bị suy kiệt vì ráng đến tận nơi chúng
    muốn đến để đẻ trứng.
    Vì chúng lội ngược nhiều con sông có nhiều ghềnh thác
    chảy xiết nên lên đến nơi, cá hồi thường gầy ốm, tiều tụy,
    xác xơ vào lúc chúng sinh nở. Nhưng dù có xác xơ hay
    còn phốp pháp thì khi đẻ trứng xong là cá hồi Thái Bình
    Dương đều chết cả.
    Khi tới đúng chỗ đẻ trứng (thường cũng là nơi trước kia
    chúng ra đời trong dạng cái trứng), con cá hồi cái dùng
    đuôi, vây và chính thân mình đào một cái lỗ trong đá, đất
    hoặc cát rồi đẻ trứng vào đó. Con đực sẽ cho thụ tinh. Sau
    đó cá hồi cái ấp trứng.

    29

    Khi mọi việc đã xong thì dường như cá hồi cũng chán
    hết mọi sinh thú ở đời. Nó thả mình theo dòng nước trôi
    xuôi. Dòng nước đó cũng là nơi nó gởi tấm thân tàn tạ. Và
    cũng là lúc mở màn cho trang sử đầu tiên của cá hồi con.
    Sáu mươi ngày sau khi ra khỏi lòng mẹ, trứng cá hồi mới
    nở. Cá hồi con sẽ ở lại vùng nước ngọt trong vài tháng, có
    khi đến một năm rồi lại theo dòng sông để vào biển cả.
    Cái vòng sinh tử cứ thế quay đều, từ thế hệ này sang thế
    hệ khác, không bao giờ thay đổi.

    15

    Cá thở như thế nào?

    Cách nay cả hàng trăm ngàn năm, trước khi cả người
    nguyên thủy xuất hiện trên mặt đất thì cá đã bơi lội tung
    tăng trong các đại dương. Vào thời đó mà cá đã đạt tới
    trì...
     
    Gửi ý kiến

    Không có gì có thể thay thế văn hóa đọc

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC PHÚ CÁT - TP HUẾ !