Dạy bé các phương tiện giao thông | Vạn điều hay cho bé
hay-tra-loi-em-tai-sao-tap-05

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 08h:24' 05-03-2024
Dung lượng: 3.6 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 08h:24' 05-03-2024
Dung lượng: 3.6 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
Hãy trả lời em tại sao?. T.5 / Đặng Thiên Mẫn d. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
248tr. ; 19cm.
1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Đặng Thiên Mẫn d.
001 -- dc 22
H412
đặng thiền mẫn dịch
4
Chương 1
Loài vật
sống như thế nào?
1
Loài vật có thể hiểu nhau không?
Nếu “hiểu” ở đây có nghĩa là cảm thông, nắm được cái “ý”
của nhau qua thanh âm, cử chỉ... thì câu trả lời là CÓ! Nếu
có nghĩa là trò chuyện với nhau, trao đổi cho nhau tình ý
của mình - như con người đã làm - thì câu trả lời là KHÔNG!
Ngay với con người, ngôn ngữ không phải là phương
tiện truyền thông duy nhất. Ta có cách và có thể biểu đạt
sự giận dữ bằng lời nói lớn và gay gắt, bằng điệu bộ hung
hăng, bằng nét mặt, sắc diện... Ta nhún vai để biểu đạt sự
coi thường, sự không chấp nhận. Ta lắc đầu hay gật đầu
để biểu lộ sự bất ưng hay ưng thuận... Nghĩa là bằng nhiều
cách lắm. Trong khi đó, những thanh âm và cử chỉ của loài
vật thì rất nghèo nàn. Có thể có nhiều ý, tình chỉ được biểu
đạt chung trong một tiếng hót, tiếng gầm, hay một điệu bộ.
Khi gà mẹ lớn tiếng “túc túc” và xòe cánh ra thì lũ gà
con hiểu đó là hiệu báo của sự đe dọa nguy hiểm. Khi một
con ngựa hí và vỗ móng xuống đất thì những con ngựa
5
khác nhận ra được “điệp thư”. Một số giống vật có thể theo
những dấu chỉ mong manh hoặc dấu hiệu mơ hồ do con
vật khác phát ra. Khi có một con chim bay vụt lên cành cây
cao chỉ để mở rộng tầm quan sát thì các con khác không
bay lên theo hoặc không chuyển dịch. Nhưng khi bay lên
theo cách nào đó, cả bầy nhìn thấy đó là dấu hiệu phải bay
đi, là cả bầy bay đi.
Giống chó có khá nhiều cách. Nó không chỉ sủa mà
còn tru, gầm gừ, ư ử, rên rỉ. Nó có thể nhe răng, chĩa vuốt,
cào. Các con chó khác hiểu được ý nghĩa của những âm,
những điệu bộ đó.
Loài vật truyền thông cho nhau không chỉ bằng âm thanh,
cử động mà còn bằng mùi. Hầu hết giống vật sống thành
bầy đều dựa vào mùi để quần tụ với nhau. Và ta đã quá rõ
là giống chó có tài ngửi mùi thính như thế nào.
Khỉ được coi là thông minh nhất trong loài vật. Vậy mà
thật sự chúng cũng chẳng có “ngôn ngữ” rành rẽ hơn loài
vật khác. Chúng có thể phát ra nhiều âm, nhiều thanh và
6
dùng được cả nét mặt để truyền thông sự giận dữ, sự đói
khát, sự vui khoái. Nhưng chúng không có được ngôn ngữ
như con người.
Khác với loài người có thể học nói, học một thứ ngôn ngữ
khác, loài khỉ và các loài vật khác không cần học, nhưng do
bản năng, có thể “nói” được ngôn ngữ của loài nó. Chúng
có thể bắt chước - và khá giống - một vài âm hoặc thanh
hoặc cách biểu đạt nào đó không phải là của riêng chủng
loại nó.
Tuy nhiên, loài chim có thể học cách hót, ít ra phần nào.
Con chim sẻ bay lộn trong bầy chim yến đã cố để hót như
chim yến. Nó đang học lộn tiếng chăng?
2
Loài vật có biết cười,
biết khóc không?
Nếu có một con vật cưng - như con chó, con mèo chẳng
hạn - có lẽ bạn sẽ quyến luyến nó, lần lần bạn cảm thấy nó
cứ như “người” vậy. Nghĩa là bạn bắt đầu tưởng nó biết biểu
cảm theo cách con người như khóc, cười.
Bạn tưởng vậy mà hóa ra không phải vậy. Khóc, cười
là cách biểu cảm đặc trưng của con người mà không một
loài vật nào có thể có được. Tất nhiên, bạn biết, con vật
có thể rên rỉ, thút thít khi nó bị thương, nhưng nhỏ lệ để
biểu cảm những nỗi đau đớn, xót xa thì không, không thể.
7
Nói vậy không có nghĩa là loài vật không có tuyến nước
mắt. Nhưng nước mắt ấy chỉ để dùng rửa mắt, rửa giác mạc
mà thôi. Muốn khóc, con vật phải biết suy nghĩ và có cảm
cảm xúc như con người đã. Ngay cả đứa hài nhi cũng chỉ
biết khóc khi nó học được cách nghĩ, cách cảm. Hài nhi
“kêu” oe oe không có nghĩa là hài nhi đó biết khóc.
Khóc là một cách biểu cảm thay cho nói. Khi ta cảm
thấy ngôn ngữ không đủ để biểu cảm cái ta cảm thấy,
thì ta khóc. Thật ra, khóc là một phản xạ mà nhiều khi ta
không thể chủ động, và phản xạ ấy giúp ta “phóng ra” cái
ta cảm thấy.
Cười cũng là một biểu hiện đặc trưng của con người.
Có vài giống vật cho ta cái cảm tưởng chúng cười, nhưng
dứt khoát đó không phải là cái cười của con người. Lý do
là con người luôn luôn cười một cái gì, nghĩa là cái cười
luôn luôn hàm chứa một yếu tố tinh thần và cảm tính hay
cái cười chính là cảm xúc được phát tác. Loài vật không
sao có được một quá trình tâm linh hay cảm xúc được.
Chẳng hạn khi nghe một
câu chuyện khôi hài ý nhị
hay nhìn một điệu bộ tức
cười, tinh thần hoặc cảm
xúc làm cho nó xem ra
đáng buồn cười. Thật ra có
nhiều lối cười và nhiều lý do để
cười. Chúng ta cười những vật,
8
những điệu bộ (một bà mập ú đi lạch bạch như con vịt bầu,
một cái dù nhỏ xíu, một anh hề) hay nghe một câu chuyện
tiếu lâm. Chúng ta cũng có thể cười chế nhạo, cười khinh bỉ.
Các nhà tâm lý học cho rằng cười là một hiện tượng xã
hội. Ta cười khi ta là một thành phần của một nhóm thấy
một cái gì đáng cười. Có những cái mà người Âu thấy rất
tức cười nhưng người Á Đông thì không, và ngược lại. Loài
vật, dù có sống thành đoàn lũ cũng không thể cười, vì bất
cứ lý do gì.
3
Loài vật có vị giác không?
Vị giác là một trong những nguồn gốc của cảm giác
sướng khoái của con người. Nó làm cho ta ăn biết ngon.
Tuy nhiên, vị giác không phải chỉ giúp cho ta cảm thấy cái
ngon mà chủ yếu vị giác là để bảo vệ ta. Nó thường tránh
cho ta ăn phải cái độc hại.
Quá trình hoạt động của vị giác diễn ra như thế nào?
Nó là một khả năng tri giác các tác động mạnh của phân
tử. Những phân tử vận động kích thích thần kinh vị giác
và ta “xác minh” cái được thông tri cho ta qua vị giác. Ta
chỉ xác minh được các chất hòa tan trong các dung môi,
vì trong dung môi, các nguyên tử mới có thể chuyển động
thoải mái. Bởi vậy, đố ai biết được tấm kiếng thủy tinh kia
chua hay ngọt? Bất cứ thứ gì làm cho các phân tử chuyển
9
động mạnh hơn thì càng tác động mạnh hơn vào vị giác.
Đó là lý do tại sao nếm một vật nóng ta lại dễ cảm nhận
vị giác của nó hơn là lúc nó nguội.
Vị giác trước hết được tiếp nhận bởi những cái “gai thịt”,
thực chất là các dây thần kinh được cấu tạo giống như cái
gai. Nhưng gai này có khả năng đặc biệt là tiếp thu những
kích thích mà ta gọi là vị.
Nơi con người cũng như nơi loài vật, các gai này nằm trên
lưỡi. Số lượng gai nhiều hay ít tùy nhu cầu của từng giống,
loài. Con người chẳng hạn chỉ có vị giác ở mức trung bình.
Trên lưỡi người có khoảng 3.000 cái gai như vậy. Loài cá voi
nuốt chửng cả thúng cá. Nhưng vì chúng nuốt chửng chứ
không nhai nên lưỡi chúng chẳng có cái gai nào. Đố bạn biết
trong gia súc, giống nào có vị giác tinh tế nhất - tinh tế hơn
cả con người nữa? Thiệt ngộ, con heo đấy. Trên lưỡi heo có
tới 5.500 gai vị giác. Tuy nhiên, đáng kinh ngạc phải là con
bò. Bạn thử đoán xem số gai vị giác trên lưỡi bò bằng bao
nhiêu lần so với lưỡi người? Trên mười lần, nghĩa là, lưỡi bò
có khoảng 35.000 gai vị giác. Nhưng lưỡi bò vậy mà vẫn còn
thua lưỡi linh dương. Lưỡi linh dương có tới 50.000 gai vị
giác. Như vậy, ta thấy vị giác không phải là độc quyền của
con người mà con vật cũng có. Hơn thế nữa, nhiều giống
vật còn có vị giác tinh tế hơn vị giác con người nữa kìa.
Loài người và loài vật tiếp thu vị của thức ăn bằng lưỡi
chớ không bằng “cùi chỏ” hay bằng da. Ấy thế mà hầu hết
10
các sinh vật biển lại có thể “nếm” bằng da trên toàn thân,
bởi vì trên toàn thân phía ngoài của nó đều có gai vị giác
phủ kín. Cá chẳng hạn, chẳng những toàn thân mà ngay
cả cái đuôi cũng được gai vị giác phủ kín luôn. Côn trùng
biết bay thì dùng... chân để nếm thực phẩm. Khi những
cái chân con bướm đặt lên một nhụy hoa ngòn ngọt là
cái vòi của nó biết liền và hút nhụy liền.
Rắn và các giống bò sát dùng lưỡi để nếm thật đấy.
Nhưng cách nếm của nó khác với cách nếm của con người.
Lưỡi rắn “đụng” vào một vật liền “cướp” lấy một ít phân tử
của vật ấy, đưa nhanh vào phía hàm trên của miệng nó.
Tại đó có “nhà máy” phân tích, phân loại, đánh giá vị của
vật bị nó nếm nhanh như chớp. Tất cả các động tác: cướp,
đưa vào hàm trên, phân tích, nhận ra... xảy ra nhanh đến
nỗi gần như đồng thời.
4
Loài vật có phân biệt được màu
sắc không?
Con người mở mắt ra nhìn: thế giới hiện ra đủ sắc màu.
Bất cứ vật gì cũng có một màu nào đó. Nhưng các sinh
vật khác dường như không được hưởng cái đặc ân nhìn
thấy cả một thế giới sặc sỡ, rực rỡ màu sắc như con người.
Nhưng dựa vào đâu mà ta có quyền “tội nghiệp dùm cho”
các sinh vật khác như vậy. Biết đâu nó lại nhìn được màu
11
sắc mà ta không nhìn thấy được, cũng như nó nghe được
những âm ba mà tai ta không nghe được?
Các nhà khoa học đã làm nhiều thí nghiệm để thuyết
phục ta. Người ta đã thử bằng hàng trăm cách khác nhau
xem con ong có phân biệt được màu sắc không, bởi vì ta
muốn biết xem khi đi hút mật, ngoài mùi vị của nhụy hoa,
ong có biết phân biệt màu sắc của hoa không. Người ta
thí nghiệm bằng cách phết sirô lên một miếng giấy màu
xanh và để bên cạnh đó một miếng giấy màu đỏ nhưng
không có sirô. Lát sau ong bay đến miếng giấy màu xanh
mà không chú ý đến miếng giấy màu đỏ. Kế đó, để miếng
xanh và đỏ rời thật xa nhau thì ong vẫn bu đến miếng giấy
xanh dù lúc này không phết sirô nữa. Điều này chứng tỏ
ong có phân biệt được màu sắc.
Có hai điều đáng ngạc nhiên trong khả năng phân biệt
màu sắc của loài ong. Một, con ong không nhìn được màu
đỏ. Đối với nó, màu đỏ chỉ là màu xám sịt hoặc đen. Hai, con
ong nhìn ra màu của tia cực tím mà con người thì không.
Nhiều giống chim đực có màu sáng. Liệu các giống chim
cái đồng loại có phân biệt được các sắc độ màu ấy không?
Thí nghiệm với gà mái, người ta đã đi đến kết luận gà mái
có thể phân biệt được hết các màu sắc của cầu vồng nghĩa
là đỏ, lam, vàng, tím, lục - đủ cả. Chúng ta đều cho rằng
chó là sinh vật tinh khôn. Và người ta thường dùng kiểu
nói: “Đầu óc như đầu óc chim sẻ”, hoặc “Đầu óc như đầu
12
óc gà mái” để rủa nhau. Chó tinh khôn nhưng mù màu. Gà
mái ngu độn nhưng phân biệt được ngũ sắc! Nhiều khi ta
tưởng chó phân biệt được màu mà thực ra nó chỉ phân
biệt được vật này với vật kia nhờ mùi, vị, hình dạng. Có lẽ
mấy bà mấy cô lấy làm buồn vì chú chó cưng không phân
biệt được màu sắc của bộ đồ diện đắt tiền, màu sắc sặc sỡ
của mình. Đừng buồn, nhờ khứu giác rất tinh tế, chó cưng
vẫn nhận ra chủ nhờ cái mùi độc đáo của mỗi bà, mỗi cô.
Loài mèo hình như cũng bị mù màu nữa.
Khỉ và tinh tinh có khả năng phân biệt màu rất tốt. Nhưng
hầu hết các động vật có vú đều mù màu, kể cả con bò.
Lý do mù màu của các động vật có vú bắt nguồn ở sự
kiện là hầu hết chúng đều là những động vật săn mồi ban
đêm cho nên không cần phân biệt màu sắc. Và như thế lại
là điều hay cho chúng, vì nếu kẻ thù phân biệt được màu
sắc của nó thì... “mệt lắm”, nguy lắm.
5
Tại sao động vật ngủ đông?
Ta hãy lấy con “Woodchuck” làm điển hình cho giống
vật ngủ đông để xem xét. Không giống với con sóc, con
vật này không dự trữ lương thảo để dùng vào mùa đông,
bởi vì, “Woodchuck” sống bằng lá cây. Mùa đông ở miền ôn
đới cây trơ cành trụi lá. Vả lại lá xanh đâu có để lâu được.
Nó héo, nó rữa đi chớ. Woodchuck làm gì có tủ lạnh. Thế là
đành nhịn đói đi ngủ, nhưng nhịn đói cho hết mùa đông
13
thì chết còn gì. Ấy vậy mà Woodchuck vẫn sống phây phây,
sanh con đẻ cái đùm đề, cho nên mỗi năm mỗi mùa đông
có nghĩa là mỗi năm mỗi nhịn đói đi ngủ mà “Woodchuck”
đâu có tuyệt chủng. Tất nhiên, để sinh tồn, Woodchuck
phải có mánh riêng, độc đáo để dự trữ lương thực ngay
trong cơ thể của mình. Thế là khỏi lo hư thối, khỏi lo bị
trộm cắp. Dự trữ bằng cách nào? Mùa hè, có nhiều thức
ăn, Woodchuck ăn thật nhiều, béo núc. Khi mùa đông đến,
đào cái hang cho sâu, chui xuống đó, ngủ! Trong lúc ngủ,
mỡ trong cơ thể đưa ra xài từ từ, đợi thời!
Nhiều động vật có vú - như gấu chẳng hạn - không ngủ
đông thật sự. Thật ra, vào mùa đông gấu ngủ nhiều hơn
mùa hè, nhưng giấc ngủ không “sâu”. Dầu sao mùa đông
cũng có những ngày ấm áp. Vậy là những ngày ấy gấu, sóc,
chuột thức dậy và ra khỏi hang kiếm chút đỉnh.
Lúc ngủ, những con vật ngủ đông hầu như chết. Và giấc
ngủ đông cũng chẳng hề giống giấc ngủ thường. Lúc con
vật ngủ đông, mọi sinh hoạt của nó hầu như ngưng lại.
Thân nhiệt của chúng xuống thấp chỉ còn hơn nhiệt độ
14
trong hang của chúng chút ít. Bởi vậy, chúng “đốt” rất ít,
rất chậm thực phẩm dự trữ trong cơ thể của chúng. “Đốt”
ít thực phẩm, do đó ít cần tới oxy, do đó hơi thở chậm lại,
do đó tim đập chậm và nhẹ hơn, chỉ hơi thoi thóp thôi.
Nếu nhiệt độ trong hang xuống thấp quá, con vật sẽ thức
giấc, đào hang cho sâu thêm nữa, rồi ngủ tiếp!
Cái gì đã báo cho con vật ngủ đông mùa xuân đã đến?
Nhiệt độ trong hang, độ ẩm, và... cái bao tử rỗng của nó.
Thế là chúng tỉnh dậy, bò ra khỏi hang.
Chắc bạn tưởng động vật máu nóng mới ngủ đông,
còn động vật máu lạnh thì khỏi? Không! Con sâu đất chui
sâu xuống đất ngay từ đợt sương giá đầu tiên. Ếch nhái tự
chôn mình trong bùn dưới đáy ao. Rắn thì chui vào hang
đào dưới đất hay trong các khe đá. Một vài giống cá như
cá chép chẳng hạn cũng vùi mình dưới bùn. Ngay cả vài
giống sâu bọ cũng ngủ đông bằng cách lẩn mình dưới
hòn đá hoặc gỗ.
6
Trâu bò nhai... “trầu”?
Từ thuở xa xưa, xa thăm thẳm, có nhiều giống vật đã
không thể tự vệ một cách hữu hiệu trước kẻ thù mạnh hơn,
dữ hơn. Để sống còn, những giống vật này bèn “phát minh”
ra một lối ẩm thực độc đáo. Mỗi khi có thể được, chúng
“ních” thật nhanh, thật nhiều vào bụng bằng cách nuốt
15
chửng, không nhai nhấm gì ráo, để rồi còn chạy cho kịp,
kẻo kẻ thù tới. Đến nơi ẩn náu an toàn, có thì giờ, lúc đó
chúng từ từ ói thức ăn nuốt vội ra để nhâm nhi, nhai lại.
Lúc đó, chúng mới có thì giờ thưởng thức mùi vị thức ăn.
Động vật nhai lại ngày nay chính là hậu duệ của những
động vật nuốt chửng ăn vội mà ta vừa nói. Hầu hết động
vật có vú rất hữu ích cho con người đều thuộc loài nhai
lại, chẳng hạn như trâu, bò, cừu, dê, lạc đà, lạc đà Nam Mỹ
(llama), hươu, sơn dương...
Cái gì làm cho các giống vật này có thể nhai lại thực
phẩm đã nuốt? Bao tử của động vật nhai lại khá phức tạp,
gồm năm ngăn là: dạ cỏ, túi tổ ong, dạ lá sách, dạ múi khế
và ruột non. Mỗi dạ này có chức năng riêng trong việc
tái chế thực phẩm. Khi được nuốt chửng vào, thực phẩm
được vò sơ sơ rồi đưa vào chứa trong dạ cỏ là ngăn rộng
nhất của bao tử. Tại đó thực phẩm được làm cho ẩm và
mềm rồi chuyển qua túi tổ ong. Tại đây thực phẩm được
vo viên cỡ vừa phải.
Sau khi ăn - nói đúng ra là nuốt chửng - con vật thường
nằm xuống nghỉ ngơi đâu đó. Rồi từ từ, nó “ói” thực phẩm
từ túi tổ ong ra miệng và nhai lần thứ nhất. Nhai xong
nuốt trở lại và đưa vào dạ lá sách. Từ đây thực phẩm được
chuyển qua dạ múi khế, ở đó quá trình tiêu hóa mới thực
sự bắt đầu diễn ra. Cũng thuộc loại nhai lại, nhưng lạc đà
không có dạ múi khế.
16
Bò không có răng hàm trên. Thay vì răng hàm trên, nướu
biến thành một phiến liền, cứng. Chính cái “phiến” này đã
đẩy cỏ xuống răng hàm dưới. Khi gặm cỏ, con bò cũng
“ngậm” cho chặt theo cách này rồi dùng đầu lắc một cái
để bứt cỏ.
7
Loài chó đã được thuần hóa từ
lúc nào?
Cách nay nhiều trăm ngàn năm, những bước đi của con
ma mút khổng lồ còn làm rung chuyển mặt đất, lúc đó
còn là rừng rậm. Con người sống trong hang, khoác lông
da thú làm quần áo thì con vật đầu tiên làm bạn với con
người là con chó.
Thoạt tiên, chó đi theo con người trong các cuộc đi săn
để ăn những đồ ăn dư thừa của con người. Rồi theo bản
năng “kết bạn”, chó đã nhận con người làm “lãnh đạo” của
mình. Con người cũng đã sớm dạy cho chó giúp mình trong
việc săn, chở các đồ vật nặng và canh giữ bếp lửa chẳng
hạn. Những việc này diễn ra từ rất lâu trước khi có lịch sử.
Tất cả những điều vừa nói chỉ là những phỏng đoán dựa
vào xương chó lẫn lộn vào xương người được tìm thấy
trong hang của người tiền sử vào thời đồ đá.
Vài nhà khoa học tin rằng giống chó nhà ngày nay là
kết quả sự thuần hóa chó sói và chó rừng. Nhà khoa học
17
khác cho rằng chó nhà chỉ là hậu duệ của chó sói. Người
khác cho là chó nhà chỉ là hậu duệ của chó rừng, chó sói
“coyote”, chó “fox”. Nhưng phần đông cho rằng chó rừng
và chó sói có cùng một tổ tiên xa xăm. Thuyết này giúp ta
giải thích sự khác biệt về tầm vóc, ngoại hình của nhiều nòi
chó và giải thích cả tập tính của chúng. Chó nhà thường
xoay xoay quanh chỗ nó nằm trước khi nó nằm xuống. Cử
động này là “thói quen” của tổ tiên xa xăm của chúng khi
xưa khi còn là chó rừng: chúng đạp lá cỏ cho xẹp xuống để
làm ổ ngủ. Một bằng chứng khác chứng tỏ chó rừng là tổ
tiên xa xăm của chó nhà là vóc dáng của chó nhà đã được
cấu tạo thích hợp cho việc chạy nhanh và dai. Những khả
năng này kết hợp với sự thính mũi, thính tai là những tính
chất chúng cần phải có mới sống nổi khi còn là chó rừng.
Khi loài người ghi chép được lịch sử thì đã có chỗ nhắc
tới con chó. Trong các mộ cổ của người Ai Cập cách nay
5.000 năm đã có hình vẽ con chó. Người Ai Cập cổ coi chó
là giống vật thiêng. Khi trong gia đình Ai Cập có một con
chó chết thì cả gia đình đều thương tiếc.
8
Giống mèo được thuần hóa
từ bao giờ?
Giống mèo đã quẩn quanh, quấn quýt bên con người từ
rất lâu rồi. Trong những hang có người tiền sử ở cách nay
18
hàng triệu năm, người ta đã tìm được các hóa thạch của mèo.
Mèo nhà hiện nay là hậu duệ của mèo rừng, nhưng
chẳng ai biết rõ thuộc nòi nào, vì mèo đã được thuần hóa
cách nay đã hàng triệu năm rồi. Có lẽ những nòi mèo nhà
trên thế giới hiện nay đều từ hai hay ba nòi mèo rừng đã
sống trước kia ở Âu, Bắc Phi, Á từ hàng triệu năm trước.
Phỏng đoán chính xác nhất là cách nay vào khoảng 5.000
năm, con mèo rừng đầu tiên đã được thuần hóa. Cách nay
4.000 năm người Ai Cập đã thuần hóa được mèo rừng. Nói
đúng ra người Ai Cập cổ đã thờ mèo. Nữ thần Bast hoặc
Pacht gì đó có đầu là đầu mèo, và đồ cúng được dâng cho
mèo... thần!
Mèo được hình dung làm nam và nữ thần Ra và Isis.
Khi trong gia đình có mèo chết thì từ chủ cho đến tôi tớ
trong nhà đều cạo lông mày và để tang. Một con mèo thờ
trong đền bị chết thì cả thành phố để tang. Nhiều xác ướp
mèo đã được tìm thấy. Các xác ướp này đã được tẩm liệm
và ướp chẳng khác gì vua hoặc quý tộc. Kẻ nào giết mèo
thì sẽ bị xử tử.
Tuy nhiên ở châu Âu, có lẽ đến tận thế kỷ thứ 10 sau
Công nguyên mèo mới được thuần hóa. Thời cổ ở châu Âu
người ta có một thái độ đối với mèo khác hẳn với người
Ai Cập. Họ coi mèo là ma quỷ chớ không phải thần linh.
Quỷ thường được người Âu vẽ dưới dạng con mèo đen.
Phù thủy thường được cho là đã lấy hình mèo.
19
Các nòi mèo khác nhau về vóc dáng, ngoại hình chẳng
kém gì các nòi chó. Có lẽ dấu hiệu để dễ nhận ra hai nòi
mèo khác nhau là mèo lông ngắn và mèo lông dài. Mèo
lông dài nổi tiếng là mèo Ba Tư và mèo Angora.
9
Tại sao sư tử lại được gọi “chúa
sơn lâm”?
Trong suốt lịch sử loài người, sư tử vẫn được coi như
biểu tượng của sức mạnh. Ta thường ví “mạnh như sư tử”.
Người phương Tây gọi người có lương tâm là người có “trái
tim sư tử”. Nhiều triều đình trên thế giới đã vẽ hình sư tử
lên quốc huy, quốc kỳ để biểu dương quyền lực của mình.
Sư tử được tôn vinh là chúa sơn lâm có lẽ chẳng phải
vì không có con vật nào đánh bại được sư tử mà vì những
kinh hãi mà sư tử đã gây ra cho loài người và loài vật.
Người Ai Câp cổ cho rằng sư tử là linh vật. Ngay thời
20
Chúa Giêsu ra đời, nghĩa là cách nay gần hai ngàn năm, ở
nhiều nơi trên châu Âu vẫn còn sư tử. Nhưng chỉ 500 năm
sau, tại châu Âu, sư tử bị giết sạch. Ngày nay chỉ còn một
vài vùng ở châu Phi và một vùng ở Ấn Độ là còn sư tử,
nhưng cũng không nhiều.
Sư tử cùng họ với mèo nhỏ. Chiều dài của sư tử trưởng
thành vào khoảng 2,7 mét và nặng khoảng 200 đến 250
kg. Sư tử đực lớn hơn sư tử cái. Nhìn dấu chân trên mặt
đất, người thợ săn có thể nói đó là dấu chân của sư tử đực
hay sư tử cái, vì bàn chân của sư tử đực lớn hơn. Thanh
âm của sư tử là tiếng rống hoặc gầm. Khác với mèo, sư tử
không gừ gừ. Sư tử trèo cây được nhưng ít khi nó sử dụng
khả năng này, và cũng khác với mèo, sư tử không sợ nước.
Nó còn có thể dầm mình trong nước. Thực phẩm của sư
tử chính là các con thú khác, nhất là thú ăn cỏ. Bởi vậy, sư
tử sống ở rừng thưa, rừng sa van chứ không sống trong
rừng già, rừng rậm. Vì nó phải uống nước mỗi ngày nên
nó phải sống ở gần nơi có nước.
Ban ngày sư tử ngủ, ban đêm săn mồi. Sư tử sống riêng
lẻ hay sống cặp, cũng có khi sống thành nhóm từ ba đến
một chục con. Thực phẩm chủ yếu của nó là ngựa vằn, linh
dương, sơn dương. Đôi khi sư tử cũng tấn công cả hươu
cao cổ. Nhưng nó không tấn công voi, tê giác và hà mã.
Khi nổi giận, sư tử chẳng thèm để ý đến những thú vật
khác bởi vì nó dám chấp cả đám.
21
Khi đi săn, sư tử ẩn nấp rình con mồi đi ngang hay hống
lên để hù làm nạn nhân “hết hồn” rồi nhảy ra, vút đuổi theo
vồ. Khi đuổi theo như vậy tốc lực của sư tử có thể đạt tới
60km/giờ, nhưng nó chỉ giữ tốc độ này trong cự ly ngắn.
10
Tại sao chim đực có bộ lông sặc
sỡ hơn chim mái?
Để trả lời câu hỏi đó, trước hết ta phải hiểu tại sao chim
lại có màu sắc sặc sỡ đã.
Người ta đã đưa ra nhiều cách giải thích về màu sắc của
loài chim. Tuy nhiên, ngày nay khoa học vẫn chưa thu thập
được hiểu biết đầy đủ về vấn đề này. Rất khó giải thích tại
sao giống chim này có màu sắc sặc sỡ hoặc lợt, sáng mà
giống chim kia lại có màu đậm tối? Có giống chim nhìn thì
màu sắc lồ lộ, có giống thì rất khó nhìn ra. Người ta đã cố
gắng nhiều để tìm ra quy luật chi phối vấn đề này.
Quy luật thứ nhất là những giống chim phần lớn thời
gian sống trên ngọn cây cao, sống nơi quang đãng hoặc
trên mặt nước thì có màu sáng, lợt hơn giống chim phần
lớn thời giờ sống trên mặt đất.
Quy luật khác - với nhiều ngoại lệ - phần trên của chim
có nhiều màu tối hơn phần dưới.
Sự kiện này khiến các nhà điểu học tin rằng màu sắc
chính là một phương tiện tự vệ của chim, để nó khó bị kẻ
thù phát hiện. Màu sắc của giống chim dẽ chẳng hạn, nó
22
hoàn toàn “tiệp” với màu cỏ đầm lầy, nơi nó sinh sống. Màu
lông chim dẽ gà hoàn toàn giống với màu lá rụng.
Nếu màu sắc là phương tiện tự vệ thì chim nào - đực
hay mái - cần sự tự vệ nhất? Con mái, vì nó phải ấp trứng.
Vì vậy, thiên nhiên cho nó màu “tiệp” với màu sắc nơi nó
nằm ổ, để kẻ thù khó phát hiện ra nó.
Lý do khác giải thích màu sắc sáng và sặc sỡ của chim
đực là để hấp dẫn con mái vào mùa sinh nở. Vào thời điểm
này bộ lông con đực càng thêm sặc sỡ, rực rỡ để phô diễn
với chim mái.
11
Chim hót để làm gì?
Tiếng chim hót là một
trong những thanh âm
đáng yêu nhất của thiên
nhiên. Những khi ta rong
chơi ngoài đồng quê, nghe
chim hót ta thấy dường
như chim chóc đang gọi nhau, đang trò chuyện với nhau.
Thật ra tiếng chim hót của loài chim chính là phương
tiện truyền thông của chúng, cũng như tiếng kêu, tiếng
tru, tiếng gầm... của các động vật khác. Tất nhiên, trong
tiếng hót của chúng có thanh âm chỉ là những biểu hiện
của sự sảng khoái, vui thú. Nhưng hầu hết các tiếng hót
23
đều là những “điệp thư” bằng âm thanh, thể hiện những
cảm thông, truyền đạt các tin tức.
Con gà mái “cục cục” hoặc là “quác quác” để báo động
cho lũ gà nhép tình hình hiểm nghèo, để lũ gà nhép mau
chạy lẹ lại nằm im trong đôi cánh ấp ủ chở che của gà
mẹ. Nó cũng cục cục để gọi con đến ăn cái mà nó vừa
kiếm được. Bầy chim phi hành ban đêm, chúng vừa bay
vừa kêu lên. Tiếng kêu đó để bầy chim không bị tán lạc
hoặc nếu có con nào bị lạc thì định hướng tiếng kêu đó
mà bay nhập đàn.
Ngôn ngữ của loài chim tất nhiên là khác với ngôn ngữ
loài người. Ta dùng ngôn ngữ để biểu đạt ý tưởng. Loài
người không nói một ngôn ngữ theo bản năng. Con gà
không cần phải học mới biết gáy, không như con người
phải học mới biết nói, dù là tiếng mẹ đẻ. Khả năng hót của
chim là bản năng bẩm sinh.
Trong một phòng thí nghiệm, con gà vừa ra khỏi vỏ
trứng đã được đem đến nuôi ở một nơi nó không thể nghe
một tiếng gà trống hoặc gà mái nào, vậy mà con gà này
cũng biết kêu “chích chích” như những con gà khác. Lớn
lên nó cũng biết gáy nếu là gà trống hoặc cũng biết cục
tác nếu là gà mái.
Điều này không có nghĩa là chim không thể học hót.
Thật ra một vài giống chim đã bắt chước được tiếng hót
của giống chim khác. Một giống chim có tên là “chim nhái”
24
vì nó có thể nhái tiếng hót của nhiều giống chim khác. Nếu
để chim se sẻ sống chung với chim yến thì nó cũng sẽ tập
hót như chim yến. Nếu đem chim yến cho sống chung với
chim sơn ca, nó sẽ mau lẹ bắt chước tiếng hót của chim
sơn ca. Ai cũng biết là mấy con nhồng, con két bắt chước
những âm thanh chúng nghe được kể cả tiếng xe thắng
“két, két”. Vậy có thể nói loài chim sinh ra là đã có thể hót
theo bản năng, không cần học, đồng thời có thể bắt chước
tiếng hót của giống chim khác.
Một câu hỏi đau đầu: cùng một giống chim - chim sẻ
chẳng hạn - sống ở hai địa phương cách xa nhau, như Hoa
Kỳ và Anh chẳng hạn - có hót giống nhau không, hay chúng
cũng có thổ âm, thổ ngữ như người? Có! Cùng một giống
chim, có “một vài” tiếng hót mà chim sống ở địa phương
khác không hiểu. Điều này chứng tỏ rằng thêm vào những
tiếng hót theo bản năng chủng loại, chim có thể học thêm
đôi ba tiếng hót mới lạ khác.
12
Nhờ cái gì mà vịt có thể
nổi trên mặt nước?
Tiếng Anh, từ “duck” chỉ thị tất cả các động vật có lông
vũ chỉ sống hay có thể sống trên môi trường có nhiều nước.
Nó gồm đủ chủng loại từ con vịt, con le le, con thiên nga
cho đến con vịt trời. Họ nhà “duck” gồm các loại chim nước
25
như thiên nga, ngỗng, vịt nhà, vịt mỏ nhọn, fishing duck,
tree duck, dabling duck, diving duck, ruddy duck...
Hầu hết các giống “vịt” (duck) hoang hay “vịt trời” bên
Hoa Kỳ đều sống ở vùng bờ biển Canada lên phía Bắc cho
đến hết vành đai cây xanh (từ vành đai này trở lên là địa
cực, cây không mọc được mà chỉ có vài loại rêu là mọc
được - ND) đến miền Viễn Bắc Canada. Chỉ trong mùa đông
chúng mới bay đi trú đông tại các vùng ấm áp miền Nam.
Và cũng chỉ ở một thời gian ngắn. Ngay khi băng ở phía
Bắc bắt đầu tan thì chúng đã đoàn lũ thê tử bay về quê
hương lạnh lẽo, nơi có vô số đầm lầy, hồ, ao...
Nước đá không thành vấn đề lắm đối với “vịt trời”. Lý do
khiến chúng có thể nổi lên trên mặt nước lạnh lẽo như vậy
là bộ lông phía ngoài của chúng không thấm nước. Tuyến
ở phía đuôi vịt cung cấp cho chúng một thứ dầu nhờn mà
chúng phết hết lên phía ngoài bộ lông. Dưới lớp lông này
còn một lớp lông khác dày hơn phủ kín da. Ngay cả mấy
cái màng móng cũng được bảo vệ để khỏi bị lạnh. Ở màng
đó không có mạch máu hay thần kinh nên nó không cảm
thấy lạnh chân.
Chân và cẳng “vịt trời” được bố trí sao cho có thể thò
dài ra xa với thân nên rất thuận tiện cho việc bơi. Chân
cẳng như vậy nên ở trên cạn, chúng đi núng na núng nính.
Chúng bay cũng lẹ lắm. Với lộ trình ngắn, chúng có thể đạt
tốc độ 110km/giờ.
26
Hầu hết “vịt trời” làm tổ trên cạn, nhưng gần bờ nước.
Tại đó, chúng ấp trứng bằng cái ngực mềm và ấm của
chúng. Cái tổ, chúng làm khéo đến nỗi con mái có rời khỏi
tổ chốc lát trứng cũng không bị lạnh. Vịt trời đẻ một lứa
từ sáu đến mười bốn trứng và ấp trứng là việc riêng của
con mái, con trống không biết tới.
Sau mùa sinh đẻ, vịt trời rụng lông. Vì vậy trong thời
gian này vịt trời không bay được. Để tự vệ, chúng nằm im
re để không gây sự chú ý của kẻ thù.
Trên thế giới có khoảng 160 chủng loại và trên lục địa
nào cũng có vịt trời thuộc một chủng loại nào đó. Đặc biệt,
lục địa Nam cực không có vịt trời.
13
Lẽ nào cá mà biết bay?
Có cá “bay”, vỗ “cánh” đàng hoàng! Có điều nó bay không
giống với chim bay. Và không có giống cá nào có thể bay
theo kiểu như chim được. Nhưng “lao” lên không khí, vỗ
“cánh” một chặp, bay được một quãng ngắn ngắn rồi lại
rớt xuống, nếu gọi như vậy là “bay” thì quả thật là có cá
bay. Cái “cánh” của cá bay thật ra chỉ là cái vây trước rộng,
lớn so với thân cá. Khi bay nó giương cặp vây ấy ra cho
xòe nằm ngang với thân. Có trường hợp cá còn giương cả
cặp vây sau nữa.
Cá bay lên không khí bằng cách bơi thật nhanh trên
27
mặt nước với một phần thân nhô lên khỏi mặt nước. Nó
bơi như vậy một quãng lấy trớn, đuôi quẫy thật mạnh. Rồi
nó giương vây giữ cho ngay đơ và tốc độ của cử động của
nó sẽ nâng nó lên không khí.
Cá có thể “bay” mỗi lần như vậy được vài trăm mét mới
rớt xuống. Khi có sóng lớn, lúc là là xuống gặp ngọn sóng
cao, có thể mượn ngọn sóng lấy trớn vọt lên nữa. Cứ như
vậy, cá có thể bay một khoảng rất xa mà không rớt xuống
mặt nước. Đó là bay xa. Còn bay cao? Các tàu buôn khổ
vì nó. Bởi nó có thể phóng lên tới boong tàu. Mà cá ấy thì
không ngon, nên chẳng ai ham, chỉ tổ mất công quét nó
xuống biển trở lại mà thôi.
14
Tại sao cá hồi phải lội ngược
dòng nước mới đẻ trứng được?
Tạo vật có nhiều cách để sinh đẻ, tự vệ và bảo tồn nòi
giống thật lạ lùng khiến ta phải kinh ngạc. Những cách
28
làm tổ của một vài giống chim hoặc cách một vài giống
vật chiến đấu để bảo vệ đám con của mình thật lạ lùng.
Bản năng đã khiến con cá hồi phải làm một cuộc hành
trình ngược dòng. Bởi vì đó là cách tốt nhất để cá hồi con
ra chào đời và tăng trưởng. Không phải tất cả mọi con cá
hồi đều phải ngược lên đến tận đầu sông, ngọn suối để
sinh đẻ. Có nhiều con ghé ngay vào một nhánh sông phía
dưới. Cá hồi lưng gù thuộc loại này. Nó đẻ ngay ở cửa sông,
cách chỗ nước mặn vài dặm. Nhưng cũng có cá hồi thuộc
loại chúa trùm. Nó lội ngược lên đến ngọn nguồn cách
biển tới 3.000 dặm. Trước khi đi đến vùng nước ngọt, cá
hồi như được sống trong điều kiện thoải mái mạnh khỏe,
mập ra. Nhưng ngay khi vào đến nơi, cá hồi bắt đầu nhịn
ăn. Đôi khi chúng bị suy kiệt vì ráng đến tận nơi chúng
muốn đến để đẻ trứng.
Vì chúng lội ngược nhiều con sông có nhiều ghềnh thác
chảy xiết nên lên đến nơi, cá hồi thường gầy ốm, tiều tụy,
xác xơ vào lúc chúng sinh nở. Nhưng dù có xác xơ hay
còn phốp pháp thì khi đẻ trứng xong là cá hồi Thái Bình
Dương đều chết cả.
Khi tới đúng chỗ đẻ trứng (thường cũng là nơi trước kia
chúng ra đời trong dạng cái trứng), con cá hồi cái dùng
đuôi, vây và chính thân mình đào một cái lỗ trong đá, đất
hoặc cát rồi đẻ trứng vào đó. Con đực sẽ cho thụ tinh. Sau
đó cá hồi cái ấp trứng.
29
Khi mọi việc đã xong thì dường như cá hồi cũng chán
hết mọi sinh thú ở đời. Nó thả mình theo dòng nước trôi
xuôi. Dòng nước đó cũng là nơi nó gởi tấm thân tàn tạ. Và
cũng là lúc mở màn cho trang sử đầu tiên của cá hồi con.
Sáu mươi ngày sau khi ra khỏi lòng mẹ, trứng cá hồi mới
nở. Cá hồi con sẽ ở lại vùng nước ngọt trong vài tháng, có
khi đến một năm rồi lại theo dòng sông để vào biển cả.
Cái vòng sinh tử cứ thế quay đều, từ thế hệ này sang thế
hệ khác, không bao giờ thay đổi.
15
Cá thở như thế nào?
Cách nay cả hàng trăm ngàn năm, trước khi cả người
nguyên thủy xuất hiện trên mặt đất thì cá đã bơi lội tung
tăng trong các đại dương. Vào thời đó mà cá đã đạt tới
trì...
Hãy trả lời em tại sao?. T.5 / Đặng Thiên Mẫn d. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
248tr. ; 19cm.
1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Đặng Thiên Mẫn d.
001 -- dc 22
H412
đặng thiền mẫn dịch
4
Chương 1
Loài vật
sống như thế nào?
1
Loài vật có thể hiểu nhau không?
Nếu “hiểu” ở đây có nghĩa là cảm thông, nắm được cái “ý”
của nhau qua thanh âm, cử chỉ... thì câu trả lời là CÓ! Nếu
có nghĩa là trò chuyện với nhau, trao đổi cho nhau tình ý
của mình - như con người đã làm - thì câu trả lời là KHÔNG!
Ngay với con người, ngôn ngữ không phải là phương
tiện truyền thông duy nhất. Ta có cách và có thể biểu đạt
sự giận dữ bằng lời nói lớn và gay gắt, bằng điệu bộ hung
hăng, bằng nét mặt, sắc diện... Ta nhún vai để biểu đạt sự
coi thường, sự không chấp nhận. Ta lắc đầu hay gật đầu
để biểu lộ sự bất ưng hay ưng thuận... Nghĩa là bằng nhiều
cách lắm. Trong khi đó, những thanh âm và cử chỉ của loài
vật thì rất nghèo nàn. Có thể có nhiều ý, tình chỉ được biểu
đạt chung trong một tiếng hót, tiếng gầm, hay một điệu bộ.
Khi gà mẹ lớn tiếng “túc túc” và xòe cánh ra thì lũ gà
con hiểu đó là hiệu báo của sự đe dọa nguy hiểm. Khi một
con ngựa hí và vỗ móng xuống đất thì những con ngựa
5
khác nhận ra được “điệp thư”. Một số giống vật có thể theo
những dấu chỉ mong manh hoặc dấu hiệu mơ hồ do con
vật khác phát ra. Khi có một con chim bay vụt lên cành cây
cao chỉ để mở rộng tầm quan sát thì các con khác không
bay lên theo hoặc không chuyển dịch. Nhưng khi bay lên
theo cách nào đó, cả bầy nhìn thấy đó là dấu hiệu phải bay
đi, là cả bầy bay đi.
Giống chó có khá nhiều cách. Nó không chỉ sủa mà
còn tru, gầm gừ, ư ử, rên rỉ. Nó có thể nhe răng, chĩa vuốt,
cào. Các con chó khác hiểu được ý nghĩa của những âm,
những điệu bộ đó.
Loài vật truyền thông cho nhau không chỉ bằng âm thanh,
cử động mà còn bằng mùi. Hầu hết giống vật sống thành
bầy đều dựa vào mùi để quần tụ với nhau. Và ta đã quá rõ
là giống chó có tài ngửi mùi thính như thế nào.
Khỉ được coi là thông minh nhất trong loài vật. Vậy mà
thật sự chúng cũng chẳng có “ngôn ngữ” rành rẽ hơn loài
vật khác. Chúng có thể phát ra nhiều âm, nhiều thanh và
6
dùng được cả nét mặt để truyền thông sự giận dữ, sự đói
khát, sự vui khoái. Nhưng chúng không có được ngôn ngữ
như con người.
Khác với loài người có thể học nói, học một thứ ngôn ngữ
khác, loài khỉ và các loài vật khác không cần học, nhưng do
bản năng, có thể “nói” được ngôn ngữ của loài nó. Chúng
có thể bắt chước - và khá giống - một vài âm hoặc thanh
hoặc cách biểu đạt nào đó không phải là của riêng chủng
loại nó.
Tuy nhiên, loài chim có thể học cách hót, ít ra phần nào.
Con chim sẻ bay lộn trong bầy chim yến đã cố để hót như
chim yến. Nó đang học lộn tiếng chăng?
2
Loài vật có biết cười,
biết khóc không?
Nếu có một con vật cưng - như con chó, con mèo chẳng
hạn - có lẽ bạn sẽ quyến luyến nó, lần lần bạn cảm thấy nó
cứ như “người” vậy. Nghĩa là bạn bắt đầu tưởng nó biết biểu
cảm theo cách con người như khóc, cười.
Bạn tưởng vậy mà hóa ra không phải vậy. Khóc, cười
là cách biểu cảm đặc trưng của con người mà không một
loài vật nào có thể có được. Tất nhiên, bạn biết, con vật
có thể rên rỉ, thút thít khi nó bị thương, nhưng nhỏ lệ để
biểu cảm những nỗi đau đớn, xót xa thì không, không thể.
7
Nói vậy không có nghĩa là loài vật không có tuyến nước
mắt. Nhưng nước mắt ấy chỉ để dùng rửa mắt, rửa giác mạc
mà thôi. Muốn khóc, con vật phải biết suy nghĩ và có cảm
cảm xúc như con người đã. Ngay cả đứa hài nhi cũng chỉ
biết khóc khi nó học được cách nghĩ, cách cảm. Hài nhi
“kêu” oe oe không có nghĩa là hài nhi đó biết khóc.
Khóc là một cách biểu cảm thay cho nói. Khi ta cảm
thấy ngôn ngữ không đủ để biểu cảm cái ta cảm thấy,
thì ta khóc. Thật ra, khóc là một phản xạ mà nhiều khi ta
không thể chủ động, và phản xạ ấy giúp ta “phóng ra” cái
ta cảm thấy.
Cười cũng là một biểu hiện đặc trưng của con người.
Có vài giống vật cho ta cái cảm tưởng chúng cười, nhưng
dứt khoát đó không phải là cái cười của con người. Lý do
là con người luôn luôn cười một cái gì, nghĩa là cái cười
luôn luôn hàm chứa một yếu tố tinh thần và cảm tính hay
cái cười chính là cảm xúc được phát tác. Loài vật không
sao có được một quá trình tâm linh hay cảm xúc được.
Chẳng hạn khi nghe một
câu chuyện khôi hài ý nhị
hay nhìn một điệu bộ tức
cười, tinh thần hoặc cảm
xúc làm cho nó xem ra
đáng buồn cười. Thật ra có
nhiều lối cười và nhiều lý do để
cười. Chúng ta cười những vật,
8
những điệu bộ (một bà mập ú đi lạch bạch như con vịt bầu,
một cái dù nhỏ xíu, một anh hề) hay nghe một câu chuyện
tiếu lâm. Chúng ta cũng có thể cười chế nhạo, cười khinh bỉ.
Các nhà tâm lý học cho rằng cười là một hiện tượng xã
hội. Ta cười khi ta là một thành phần của một nhóm thấy
một cái gì đáng cười. Có những cái mà người Âu thấy rất
tức cười nhưng người Á Đông thì không, và ngược lại. Loài
vật, dù có sống thành đoàn lũ cũng không thể cười, vì bất
cứ lý do gì.
3
Loài vật có vị giác không?
Vị giác là một trong những nguồn gốc của cảm giác
sướng khoái của con người. Nó làm cho ta ăn biết ngon.
Tuy nhiên, vị giác không phải chỉ giúp cho ta cảm thấy cái
ngon mà chủ yếu vị giác là để bảo vệ ta. Nó thường tránh
cho ta ăn phải cái độc hại.
Quá trình hoạt động của vị giác diễn ra như thế nào?
Nó là một khả năng tri giác các tác động mạnh của phân
tử. Những phân tử vận động kích thích thần kinh vị giác
và ta “xác minh” cái được thông tri cho ta qua vị giác. Ta
chỉ xác minh được các chất hòa tan trong các dung môi,
vì trong dung môi, các nguyên tử mới có thể chuyển động
thoải mái. Bởi vậy, đố ai biết được tấm kiếng thủy tinh kia
chua hay ngọt? Bất cứ thứ gì làm cho các phân tử chuyển
9
động mạnh hơn thì càng tác động mạnh hơn vào vị giác.
Đó là lý do tại sao nếm một vật nóng ta lại dễ cảm nhận
vị giác của nó hơn là lúc nó nguội.
Vị giác trước hết được tiếp nhận bởi những cái “gai thịt”,
thực chất là các dây thần kinh được cấu tạo giống như cái
gai. Nhưng gai này có khả năng đặc biệt là tiếp thu những
kích thích mà ta gọi là vị.
Nơi con người cũng như nơi loài vật, các gai này nằm trên
lưỡi. Số lượng gai nhiều hay ít tùy nhu cầu của từng giống,
loài. Con người chẳng hạn chỉ có vị giác ở mức trung bình.
Trên lưỡi người có khoảng 3.000 cái gai như vậy. Loài cá voi
nuốt chửng cả thúng cá. Nhưng vì chúng nuốt chửng chứ
không nhai nên lưỡi chúng chẳng có cái gai nào. Đố bạn biết
trong gia súc, giống nào có vị giác tinh tế nhất - tinh tế hơn
cả con người nữa? Thiệt ngộ, con heo đấy. Trên lưỡi heo có
tới 5.500 gai vị giác. Tuy nhiên, đáng kinh ngạc phải là con
bò. Bạn thử đoán xem số gai vị giác trên lưỡi bò bằng bao
nhiêu lần so với lưỡi người? Trên mười lần, nghĩa là, lưỡi bò
có khoảng 35.000 gai vị giác. Nhưng lưỡi bò vậy mà vẫn còn
thua lưỡi linh dương. Lưỡi linh dương có tới 50.000 gai vị
giác. Như vậy, ta thấy vị giác không phải là độc quyền của
con người mà con vật cũng có. Hơn thế nữa, nhiều giống
vật còn có vị giác tinh tế hơn vị giác con người nữa kìa.
Loài người và loài vật tiếp thu vị của thức ăn bằng lưỡi
chớ không bằng “cùi chỏ” hay bằng da. Ấy thế mà hầu hết
10
các sinh vật biển lại có thể “nếm” bằng da trên toàn thân,
bởi vì trên toàn thân phía ngoài của nó đều có gai vị giác
phủ kín. Cá chẳng hạn, chẳng những toàn thân mà ngay
cả cái đuôi cũng được gai vị giác phủ kín luôn. Côn trùng
biết bay thì dùng... chân để nếm thực phẩm. Khi những
cái chân con bướm đặt lên một nhụy hoa ngòn ngọt là
cái vòi của nó biết liền và hút nhụy liền.
Rắn và các giống bò sát dùng lưỡi để nếm thật đấy.
Nhưng cách nếm của nó khác với cách nếm của con người.
Lưỡi rắn “đụng” vào một vật liền “cướp” lấy một ít phân tử
của vật ấy, đưa nhanh vào phía hàm trên của miệng nó.
Tại đó có “nhà máy” phân tích, phân loại, đánh giá vị của
vật bị nó nếm nhanh như chớp. Tất cả các động tác: cướp,
đưa vào hàm trên, phân tích, nhận ra... xảy ra nhanh đến
nỗi gần như đồng thời.
4
Loài vật có phân biệt được màu
sắc không?
Con người mở mắt ra nhìn: thế giới hiện ra đủ sắc màu.
Bất cứ vật gì cũng có một màu nào đó. Nhưng các sinh
vật khác dường như không được hưởng cái đặc ân nhìn
thấy cả một thế giới sặc sỡ, rực rỡ màu sắc như con người.
Nhưng dựa vào đâu mà ta có quyền “tội nghiệp dùm cho”
các sinh vật khác như vậy. Biết đâu nó lại nhìn được màu
11
sắc mà ta không nhìn thấy được, cũng như nó nghe được
những âm ba mà tai ta không nghe được?
Các nhà khoa học đã làm nhiều thí nghiệm để thuyết
phục ta. Người ta đã thử bằng hàng trăm cách khác nhau
xem con ong có phân biệt được màu sắc không, bởi vì ta
muốn biết xem khi đi hút mật, ngoài mùi vị của nhụy hoa,
ong có biết phân biệt màu sắc của hoa không. Người ta
thí nghiệm bằng cách phết sirô lên một miếng giấy màu
xanh và để bên cạnh đó một miếng giấy màu đỏ nhưng
không có sirô. Lát sau ong bay đến miếng giấy màu xanh
mà không chú ý đến miếng giấy màu đỏ. Kế đó, để miếng
xanh và đỏ rời thật xa nhau thì ong vẫn bu đến miếng giấy
xanh dù lúc này không phết sirô nữa. Điều này chứng tỏ
ong có phân biệt được màu sắc.
Có hai điều đáng ngạc nhiên trong khả năng phân biệt
màu sắc của loài ong. Một, con ong không nhìn được màu
đỏ. Đối với nó, màu đỏ chỉ là màu xám sịt hoặc đen. Hai, con
ong nhìn ra màu của tia cực tím mà con người thì không.
Nhiều giống chim đực có màu sáng. Liệu các giống chim
cái đồng loại có phân biệt được các sắc độ màu ấy không?
Thí nghiệm với gà mái, người ta đã đi đến kết luận gà mái
có thể phân biệt được hết các màu sắc của cầu vồng nghĩa
là đỏ, lam, vàng, tím, lục - đủ cả. Chúng ta đều cho rằng
chó là sinh vật tinh khôn. Và người ta thường dùng kiểu
nói: “Đầu óc như đầu óc chim sẻ”, hoặc “Đầu óc như đầu
12
óc gà mái” để rủa nhau. Chó tinh khôn nhưng mù màu. Gà
mái ngu độn nhưng phân biệt được ngũ sắc! Nhiều khi ta
tưởng chó phân biệt được màu mà thực ra nó chỉ phân
biệt được vật này với vật kia nhờ mùi, vị, hình dạng. Có lẽ
mấy bà mấy cô lấy làm buồn vì chú chó cưng không phân
biệt được màu sắc của bộ đồ diện đắt tiền, màu sắc sặc sỡ
của mình. Đừng buồn, nhờ khứu giác rất tinh tế, chó cưng
vẫn nhận ra chủ nhờ cái mùi độc đáo của mỗi bà, mỗi cô.
Loài mèo hình như cũng bị mù màu nữa.
Khỉ và tinh tinh có khả năng phân biệt màu rất tốt. Nhưng
hầu hết các động vật có vú đều mù màu, kể cả con bò.
Lý do mù màu của các động vật có vú bắt nguồn ở sự
kiện là hầu hết chúng đều là những động vật săn mồi ban
đêm cho nên không cần phân biệt màu sắc. Và như thế lại
là điều hay cho chúng, vì nếu kẻ thù phân biệt được màu
sắc của nó thì... “mệt lắm”, nguy lắm.
5
Tại sao động vật ngủ đông?
Ta hãy lấy con “Woodchuck” làm điển hình cho giống
vật ngủ đông để xem xét. Không giống với con sóc, con
vật này không dự trữ lương thảo để dùng vào mùa đông,
bởi vì, “Woodchuck” sống bằng lá cây. Mùa đông ở miền ôn
đới cây trơ cành trụi lá. Vả lại lá xanh đâu có để lâu được.
Nó héo, nó rữa đi chớ. Woodchuck làm gì có tủ lạnh. Thế là
đành nhịn đói đi ngủ, nhưng nhịn đói cho hết mùa đông
13
thì chết còn gì. Ấy vậy mà Woodchuck vẫn sống phây phây,
sanh con đẻ cái đùm đề, cho nên mỗi năm mỗi mùa đông
có nghĩa là mỗi năm mỗi nhịn đói đi ngủ mà “Woodchuck”
đâu có tuyệt chủng. Tất nhiên, để sinh tồn, Woodchuck
phải có mánh riêng, độc đáo để dự trữ lương thực ngay
trong cơ thể của mình. Thế là khỏi lo hư thối, khỏi lo bị
trộm cắp. Dự trữ bằng cách nào? Mùa hè, có nhiều thức
ăn, Woodchuck ăn thật nhiều, béo núc. Khi mùa đông đến,
đào cái hang cho sâu, chui xuống đó, ngủ! Trong lúc ngủ,
mỡ trong cơ thể đưa ra xài từ từ, đợi thời!
Nhiều động vật có vú - như gấu chẳng hạn - không ngủ
đông thật sự. Thật ra, vào mùa đông gấu ngủ nhiều hơn
mùa hè, nhưng giấc ngủ không “sâu”. Dầu sao mùa đông
cũng có những ngày ấm áp. Vậy là những ngày ấy gấu, sóc,
chuột thức dậy và ra khỏi hang kiếm chút đỉnh.
Lúc ngủ, những con vật ngủ đông hầu như chết. Và giấc
ngủ đông cũng chẳng hề giống giấc ngủ thường. Lúc con
vật ngủ đông, mọi sinh hoạt của nó hầu như ngưng lại.
Thân nhiệt của chúng xuống thấp chỉ còn hơn nhiệt độ
14
trong hang của chúng chút ít. Bởi vậy, chúng “đốt” rất ít,
rất chậm thực phẩm dự trữ trong cơ thể của chúng. “Đốt”
ít thực phẩm, do đó ít cần tới oxy, do đó hơi thở chậm lại,
do đó tim đập chậm và nhẹ hơn, chỉ hơi thoi thóp thôi.
Nếu nhiệt độ trong hang xuống thấp quá, con vật sẽ thức
giấc, đào hang cho sâu thêm nữa, rồi ngủ tiếp!
Cái gì đã báo cho con vật ngủ đông mùa xuân đã đến?
Nhiệt độ trong hang, độ ẩm, và... cái bao tử rỗng của nó.
Thế là chúng tỉnh dậy, bò ra khỏi hang.
Chắc bạn tưởng động vật máu nóng mới ngủ đông,
còn động vật máu lạnh thì khỏi? Không! Con sâu đất chui
sâu xuống đất ngay từ đợt sương giá đầu tiên. Ếch nhái tự
chôn mình trong bùn dưới đáy ao. Rắn thì chui vào hang
đào dưới đất hay trong các khe đá. Một vài giống cá như
cá chép chẳng hạn cũng vùi mình dưới bùn. Ngay cả vài
giống sâu bọ cũng ngủ đông bằng cách lẩn mình dưới
hòn đá hoặc gỗ.
6
Trâu bò nhai... “trầu”?
Từ thuở xa xưa, xa thăm thẳm, có nhiều giống vật đã
không thể tự vệ một cách hữu hiệu trước kẻ thù mạnh hơn,
dữ hơn. Để sống còn, những giống vật này bèn “phát minh”
ra một lối ẩm thực độc đáo. Mỗi khi có thể được, chúng
“ních” thật nhanh, thật nhiều vào bụng bằng cách nuốt
15
chửng, không nhai nhấm gì ráo, để rồi còn chạy cho kịp,
kẻo kẻ thù tới. Đến nơi ẩn náu an toàn, có thì giờ, lúc đó
chúng từ từ ói thức ăn nuốt vội ra để nhâm nhi, nhai lại.
Lúc đó, chúng mới có thì giờ thưởng thức mùi vị thức ăn.
Động vật nhai lại ngày nay chính là hậu duệ của những
động vật nuốt chửng ăn vội mà ta vừa nói. Hầu hết động
vật có vú rất hữu ích cho con người đều thuộc loài nhai
lại, chẳng hạn như trâu, bò, cừu, dê, lạc đà, lạc đà Nam Mỹ
(llama), hươu, sơn dương...
Cái gì làm cho các giống vật này có thể nhai lại thực
phẩm đã nuốt? Bao tử của động vật nhai lại khá phức tạp,
gồm năm ngăn là: dạ cỏ, túi tổ ong, dạ lá sách, dạ múi khế
và ruột non. Mỗi dạ này có chức năng riêng trong việc
tái chế thực phẩm. Khi được nuốt chửng vào, thực phẩm
được vò sơ sơ rồi đưa vào chứa trong dạ cỏ là ngăn rộng
nhất của bao tử. Tại đó thực phẩm được làm cho ẩm và
mềm rồi chuyển qua túi tổ ong. Tại đây thực phẩm được
vo viên cỡ vừa phải.
Sau khi ăn - nói đúng ra là nuốt chửng - con vật thường
nằm xuống nghỉ ngơi đâu đó. Rồi từ từ, nó “ói” thực phẩm
từ túi tổ ong ra miệng và nhai lần thứ nhất. Nhai xong
nuốt trở lại và đưa vào dạ lá sách. Từ đây thực phẩm được
chuyển qua dạ múi khế, ở đó quá trình tiêu hóa mới thực
sự bắt đầu diễn ra. Cũng thuộc loại nhai lại, nhưng lạc đà
không có dạ múi khế.
16
Bò không có răng hàm trên. Thay vì răng hàm trên, nướu
biến thành một phiến liền, cứng. Chính cái “phiến” này đã
đẩy cỏ xuống răng hàm dưới. Khi gặm cỏ, con bò cũng
“ngậm” cho chặt theo cách này rồi dùng đầu lắc một cái
để bứt cỏ.
7
Loài chó đã được thuần hóa từ
lúc nào?
Cách nay nhiều trăm ngàn năm, những bước đi của con
ma mút khổng lồ còn làm rung chuyển mặt đất, lúc đó
còn là rừng rậm. Con người sống trong hang, khoác lông
da thú làm quần áo thì con vật đầu tiên làm bạn với con
người là con chó.
Thoạt tiên, chó đi theo con người trong các cuộc đi săn
để ăn những đồ ăn dư thừa của con người. Rồi theo bản
năng “kết bạn”, chó đã nhận con người làm “lãnh đạo” của
mình. Con người cũng đã sớm dạy cho chó giúp mình trong
việc săn, chở các đồ vật nặng và canh giữ bếp lửa chẳng
hạn. Những việc này diễn ra từ rất lâu trước khi có lịch sử.
Tất cả những điều vừa nói chỉ là những phỏng đoán dựa
vào xương chó lẫn lộn vào xương người được tìm thấy
trong hang của người tiền sử vào thời đồ đá.
Vài nhà khoa học tin rằng giống chó nhà ngày nay là
kết quả sự thuần hóa chó sói và chó rừng. Nhà khoa học
17
khác cho rằng chó nhà chỉ là hậu duệ của chó sói. Người
khác cho là chó nhà chỉ là hậu duệ của chó rừng, chó sói
“coyote”, chó “fox”. Nhưng phần đông cho rằng chó rừng
và chó sói có cùng một tổ tiên xa xăm. Thuyết này giúp ta
giải thích sự khác biệt về tầm vóc, ngoại hình của nhiều nòi
chó và giải thích cả tập tính của chúng. Chó nhà thường
xoay xoay quanh chỗ nó nằm trước khi nó nằm xuống. Cử
động này là “thói quen” của tổ tiên xa xăm của chúng khi
xưa khi còn là chó rừng: chúng đạp lá cỏ cho xẹp xuống để
làm ổ ngủ. Một bằng chứng khác chứng tỏ chó rừng là tổ
tiên xa xăm của chó nhà là vóc dáng của chó nhà đã được
cấu tạo thích hợp cho việc chạy nhanh và dai. Những khả
năng này kết hợp với sự thính mũi, thính tai là những tính
chất chúng cần phải có mới sống nổi khi còn là chó rừng.
Khi loài người ghi chép được lịch sử thì đã có chỗ nhắc
tới con chó. Trong các mộ cổ của người Ai Cập cách nay
5.000 năm đã có hình vẽ con chó. Người Ai Cập cổ coi chó
là giống vật thiêng. Khi trong gia đình Ai Cập có một con
chó chết thì cả gia đình đều thương tiếc.
8
Giống mèo được thuần hóa
từ bao giờ?
Giống mèo đã quẩn quanh, quấn quýt bên con người từ
rất lâu rồi. Trong những hang có người tiền sử ở cách nay
18
hàng triệu năm, người ta đã tìm được các hóa thạch của mèo.
Mèo nhà hiện nay là hậu duệ của mèo rừng, nhưng
chẳng ai biết rõ thuộc nòi nào, vì mèo đã được thuần hóa
cách nay đã hàng triệu năm rồi. Có lẽ những nòi mèo nhà
trên thế giới hiện nay đều từ hai hay ba nòi mèo rừng đã
sống trước kia ở Âu, Bắc Phi, Á từ hàng triệu năm trước.
Phỏng đoán chính xác nhất là cách nay vào khoảng 5.000
năm, con mèo rừng đầu tiên đã được thuần hóa. Cách nay
4.000 năm người Ai Cập đã thuần hóa được mèo rừng. Nói
đúng ra người Ai Cập cổ đã thờ mèo. Nữ thần Bast hoặc
Pacht gì đó có đầu là đầu mèo, và đồ cúng được dâng cho
mèo... thần!
Mèo được hình dung làm nam và nữ thần Ra và Isis.
Khi trong gia đình có mèo chết thì từ chủ cho đến tôi tớ
trong nhà đều cạo lông mày và để tang. Một con mèo thờ
trong đền bị chết thì cả thành phố để tang. Nhiều xác ướp
mèo đã được tìm thấy. Các xác ướp này đã được tẩm liệm
và ướp chẳng khác gì vua hoặc quý tộc. Kẻ nào giết mèo
thì sẽ bị xử tử.
Tuy nhiên ở châu Âu, có lẽ đến tận thế kỷ thứ 10 sau
Công nguyên mèo mới được thuần hóa. Thời cổ ở châu Âu
người ta có một thái độ đối với mèo khác hẳn với người
Ai Cập. Họ coi mèo là ma quỷ chớ không phải thần linh.
Quỷ thường được người Âu vẽ dưới dạng con mèo đen.
Phù thủy thường được cho là đã lấy hình mèo.
19
Các nòi mèo khác nhau về vóc dáng, ngoại hình chẳng
kém gì các nòi chó. Có lẽ dấu hiệu để dễ nhận ra hai nòi
mèo khác nhau là mèo lông ngắn và mèo lông dài. Mèo
lông dài nổi tiếng là mèo Ba Tư và mèo Angora.
9
Tại sao sư tử lại được gọi “chúa
sơn lâm”?
Trong suốt lịch sử loài người, sư tử vẫn được coi như
biểu tượng của sức mạnh. Ta thường ví “mạnh như sư tử”.
Người phương Tây gọi người có lương tâm là người có “trái
tim sư tử”. Nhiều triều đình trên thế giới đã vẽ hình sư tử
lên quốc huy, quốc kỳ để biểu dương quyền lực của mình.
Sư tử được tôn vinh là chúa sơn lâm có lẽ chẳng phải
vì không có con vật nào đánh bại được sư tử mà vì những
kinh hãi mà sư tử đã gây ra cho loài người và loài vật.
Người Ai Câp cổ cho rằng sư tử là linh vật. Ngay thời
20
Chúa Giêsu ra đời, nghĩa là cách nay gần hai ngàn năm, ở
nhiều nơi trên châu Âu vẫn còn sư tử. Nhưng chỉ 500 năm
sau, tại châu Âu, sư tử bị giết sạch. Ngày nay chỉ còn một
vài vùng ở châu Phi và một vùng ở Ấn Độ là còn sư tử,
nhưng cũng không nhiều.
Sư tử cùng họ với mèo nhỏ. Chiều dài của sư tử trưởng
thành vào khoảng 2,7 mét và nặng khoảng 200 đến 250
kg. Sư tử đực lớn hơn sư tử cái. Nhìn dấu chân trên mặt
đất, người thợ săn có thể nói đó là dấu chân của sư tử đực
hay sư tử cái, vì bàn chân của sư tử đực lớn hơn. Thanh
âm của sư tử là tiếng rống hoặc gầm. Khác với mèo, sư tử
không gừ gừ. Sư tử trèo cây được nhưng ít khi nó sử dụng
khả năng này, và cũng khác với mèo, sư tử không sợ nước.
Nó còn có thể dầm mình trong nước. Thực phẩm của sư
tử chính là các con thú khác, nhất là thú ăn cỏ. Bởi vậy, sư
tử sống ở rừng thưa, rừng sa van chứ không sống trong
rừng già, rừng rậm. Vì nó phải uống nước mỗi ngày nên
nó phải sống ở gần nơi có nước.
Ban ngày sư tử ngủ, ban đêm săn mồi. Sư tử sống riêng
lẻ hay sống cặp, cũng có khi sống thành nhóm từ ba đến
một chục con. Thực phẩm chủ yếu của nó là ngựa vằn, linh
dương, sơn dương. Đôi khi sư tử cũng tấn công cả hươu
cao cổ. Nhưng nó không tấn công voi, tê giác và hà mã.
Khi nổi giận, sư tử chẳng thèm để ý đến những thú vật
khác bởi vì nó dám chấp cả đám.
21
Khi đi săn, sư tử ẩn nấp rình con mồi đi ngang hay hống
lên để hù làm nạn nhân “hết hồn” rồi nhảy ra, vút đuổi theo
vồ. Khi đuổi theo như vậy tốc lực của sư tử có thể đạt tới
60km/giờ, nhưng nó chỉ giữ tốc độ này trong cự ly ngắn.
10
Tại sao chim đực có bộ lông sặc
sỡ hơn chim mái?
Để trả lời câu hỏi đó, trước hết ta phải hiểu tại sao chim
lại có màu sắc sặc sỡ đã.
Người ta đã đưa ra nhiều cách giải thích về màu sắc của
loài chim. Tuy nhiên, ngày nay khoa học vẫn chưa thu thập
được hiểu biết đầy đủ về vấn đề này. Rất khó giải thích tại
sao giống chim này có màu sắc sặc sỡ hoặc lợt, sáng mà
giống chim kia lại có màu đậm tối? Có giống chim nhìn thì
màu sắc lồ lộ, có giống thì rất khó nhìn ra. Người ta đã cố
gắng nhiều để tìm ra quy luật chi phối vấn đề này.
Quy luật thứ nhất là những giống chim phần lớn thời
gian sống trên ngọn cây cao, sống nơi quang đãng hoặc
trên mặt nước thì có màu sáng, lợt hơn giống chim phần
lớn thời giờ sống trên mặt đất.
Quy luật khác - với nhiều ngoại lệ - phần trên của chim
có nhiều màu tối hơn phần dưới.
Sự kiện này khiến các nhà điểu học tin rằng màu sắc
chính là một phương tiện tự vệ của chim, để nó khó bị kẻ
thù phát hiện. Màu sắc của giống chim dẽ chẳng hạn, nó
22
hoàn toàn “tiệp” với màu cỏ đầm lầy, nơi nó sinh sống. Màu
lông chim dẽ gà hoàn toàn giống với màu lá rụng.
Nếu màu sắc là phương tiện tự vệ thì chim nào - đực
hay mái - cần sự tự vệ nhất? Con mái, vì nó phải ấp trứng.
Vì vậy, thiên nhiên cho nó màu “tiệp” với màu sắc nơi nó
nằm ổ, để kẻ thù khó phát hiện ra nó.
Lý do khác giải thích màu sắc sáng và sặc sỡ của chim
đực là để hấp dẫn con mái vào mùa sinh nở. Vào thời điểm
này bộ lông con đực càng thêm sặc sỡ, rực rỡ để phô diễn
với chim mái.
11
Chim hót để làm gì?
Tiếng chim hót là một
trong những thanh âm
đáng yêu nhất của thiên
nhiên. Những khi ta rong
chơi ngoài đồng quê, nghe
chim hót ta thấy dường
như chim chóc đang gọi nhau, đang trò chuyện với nhau.
Thật ra tiếng chim hót của loài chim chính là phương
tiện truyền thông của chúng, cũng như tiếng kêu, tiếng
tru, tiếng gầm... của các động vật khác. Tất nhiên, trong
tiếng hót của chúng có thanh âm chỉ là những biểu hiện
của sự sảng khoái, vui thú. Nhưng hầu hết các tiếng hót
23
đều là những “điệp thư” bằng âm thanh, thể hiện những
cảm thông, truyền đạt các tin tức.
Con gà mái “cục cục” hoặc là “quác quác” để báo động
cho lũ gà nhép tình hình hiểm nghèo, để lũ gà nhép mau
chạy lẹ lại nằm im trong đôi cánh ấp ủ chở che của gà
mẹ. Nó cũng cục cục để gọi con đến ăn cái mà nó vừa
kiếm được. Bầy chim phi hành ban đêm, chúng vừa bay
vừa kêu lên. Tiếng kêu đó để bầy chim không bị tán lạc
hoặc nếu có con nào bị lạc thì định hướng tiếng kêu đó
mà bay nhập đàn.
Ngôn ngữ của loài chim tất nhiên là khác với ngôn ngữ
loài người. Ta dùng ngôn ngữ để biểu đạt ý tưởng. Loài
người không nói một ngôn ngữ theo bản năng. Con gà
không cần phải học mới biết gáy, không như con người
phải học mới biết nói, dù là tiếng mẹ đẻ. Khả năng hót của
chim là bản năng bẩm sinh.
Trong một phòng thí nghiệm, con gà vừa ra khỏi vỏ
trứng đã được đem đến nuôi ở một nơi nó không thể nghe
một tiếng gà trống hoặc gà mái nào, vậy mà con gà này
cũng biết kêu “chích chích” như những con gà khác. Lớn
lên nó cũng biết gáy nếu là gà trống hoặc cũng biết cục
tác nếu là gà mái.
Điều này không có nghĩa là chim không thể học hót.
Thật ra một vài giống chim đã bắt chước được tiếng hót
của giống chim khác. Một giống chim có tên là “chim nhái”
24
vì nó có thể nhái tiếng hót của nhiều giống chim khác. Nếu
để chim se sẻ sống chung với chim yến thì nó cũng sẽ tập
hót như chim yến. Nếu đem chim yến cho sống chung với
chim sơn ca, nó sẽ mau lẹ bắt chước tiếng hót của chim
sơn ca. Ai cũng biết là mấy con nhồng, con két bắt chước
những âm thanh chúng nghe được kể cả tiếng xe thắng
“két, két”. Vậy có thể nói loài chim sinh ra là đã có thể hót
theo bản năng, không cần học, đồng thời có thể bắt chước
tiếng hót của giống chim khác.
Một câu hỏi đau đầu: cùng một giống chim - chim sẻ
chẳng hạn - sống ở hai địa phương cách xa nhau, như Hoa
Kỳ và Anh chẳng hạn - có hót giống nhau không, hay chúng
cũng có thổ âm, thổ ngữ như người? Có! Cùng một giống
chim, có “một vài” tiếng hót mà chim sống ở địa phương
khác không hiểu. Điều này chứng tỏ rằng thêm vào những
tiếng hót theo bản năng chủng loại, chim có thể học thêm
đôi ba tiếng hót mới lạ khác.
12
Nhờ cái gì mà vịt có thể
nổi trên mặt nước?
Tiếng Anh, từ “duck” chỉ thị tất cả các động vật có lông
vũ chỉ sống hay có thể sống trên môi trường có nhiều nước.
Nó gồm đủ chủng loại từ con vịt, con le le, con thiên nga
cho đến con vịt trời. Họ nhà “duck” gồm các loại chim nước
25
như thiên nga, ngỗng, vịt nhà, vịt mỏ nhọn, fishing duck,
tree duck, dabling duck, diving duck, ruddy duck...
Hầu hết các giống “vịt” (duck) hoang hay “vịt trời” bên
Hoa Kỳ đều sống ở vùng bờ biển Canada lên phía Bắc cho
đến hết vành đai cây xanh (từ vành đai này trở lên là địa
cực, cây không mọc được mà chỉ có vài loại rêu là mọc
được - ND) đến miền Viễn Bắc Canada. Chỉ trong mùa đông
chúng mới bay đi trú đông tại các vùng ấm áp miền Nam.
Và cũng chỉ ở một thời gian ngắn. Ngay khi băng ở phía
Bắc bắt đầu tan thì chúng đã đoàn lũ thê tử bay về quê
hương lạnh lẽo, nơi có vô số đầm lầy, hồ, ao...
Nước đá không thành vấn đề lắm đối với “vịt trời”. Lý do
khiến chúng có thể nổi lên trên mặt nước lạnh lẽo như vậy
là bộ lông phía ngoài của chúng không thấm nước. Tuyến
ở phía đuôi vịt cung cấp cho chúng một thứ dầu nhờn mà
chúng phết hết lên phía ngoài bộ lông. Dưới lớp lông này
còn một lớp lông khác dày hơn phủ kín da. Ngay cả mấy
cái màng móng cũng được bảo vệ để khỏi bị lạnh. Ở màng
đó không có mạch máu hay thần kinh nên nó không cảm
thấy lạnh chân.
Chân và cẳng “vịt trời” được bố trí sao cho có thể thò
dài ra xa với thân nên rất thuận tiện cho việc bơi. Chân
cẳng như vậy nên ở trên cạn, chúng đi núng na núng nính.
Chúng bay cũng lẹ lắm. Với lộ trình ngắn, chúng có thể đạt
tốc độ 110km/giờ.
26
Hầu hết “vịt trời” làm tổ trên cạn, nhưng gần bờ nước.
Tại đó, chúng ấp trứng bằng cái ngực mềm và ấm của
chúng. Cái tổ, chúng làm khéo đến nỗi con mái có rời khỏi
tổ chốc lát trứng cũng không bị lạnh. Vịt trời đẻ một lứa
từ sáu đến mười bốn trứng và ấp trứng là việc riêng của
con mái, con trống không biết tới.
Sau mùa sinh đẻ, vịt trời rụng lông. Vì vậy trong thời
gian này vịt trời không bay được. Để tự vệ, chúng nằm im
re để không gây sự chú ý của kẻ thù.
Trên thế giới có khoảng 160 chủng loại và trên lục địa
nào cũng có vịt trời thuộc một chủng loại nào đó. Đặc biệt,
lục địa Nam cực không có vịt trời.
13
Lẽ nào cá mà biết bay?
Có cá “bay”, vỗ “cánh” đàng hoàng! Có điều nó bay không
giống với chim bay. Và không có giống cá nào có thể bay
theo kiểu như chim được. Nhưng “lao” lên không khí, vỗ
“cánh” một chặp, bay được một quãng ngắn ngắn rồi lại
rớt xuống, nếu gọi như vậy là “bay” thì quả thật là có cá
bay. Cái “cánh” của cá bay thật ra chỉ là cái vây trước rộng,
lớn so với thân cá. Khi bay nó giương cặp vây ấy ra cho
xòe nằm ngang với thân. Có trường hợp cá còn giương cả
cặp vây sau nữa.
Cá bay lên không khí bằng cách bơi thật nhanh trên
27
mặt nước với một phần thân nhô lên khỏi mặt nước. Nó
bơi như vậy một quãng lấy trớn, đuôi quẫy thật mạnh. Rồi
nó giương vây giữ cho ngay đơ và tốc độ của cử động của
nó sẽ nâng nó lên không khí.
Cá có thể “bay” mỗi lần như vậy được vài trăm mét mới
rớt xuống. Khi có sóng lớn, lúc là là xuống gặp ngọn sóng
cao, có thể mượn ngọn sóng lấy trớn vọt lên nữa. Cứ như
vậy, cá có thể bay một khoảng rất xa mà không rớt xuống
mặt nước. Đó là bay xa. Còn bay cao? Các tàu buôn khổ
vì nó. Bởi nó có thể phóng lên tới boong tàu. Mà cá ấy thì
không ngon, nên chẳng ai ham, chỉ tổ mất công quét nó
xuống biển trở lại mà thôi.
14
Tại sao cá hồi phải lội ngược
dòng nước mới đẻ trứng được?
Tạo vật có nhiều cách để sinh đẻ, tự vệ và bảo tồn nòi
giống thật lạ lùng khiến ta phải kinh ngạc. Những cách
28
làm tổ của một vài giống chim hoặc cách một vài giống
vật chiến đấu để bảo vệ đám con của mình thật lạ lùng.
Bản năng đã khiến con cá hồi phải làm một cuộc hành
trình ngược dòng. Bởi vì đó là cách tốt nhất để cá hồi con
ra chào đời và tăng trưởng. Không phải tất cả mọi con cá
hồi đều phải ngược lên đến tận đầu sông, ngọn suối để
sinh đẻ. Có nhiều con ghé ngay vào một nhánh sông phía
dưới. Cá hồi lưng gù thuộc loại này. Nó đẻ ngay ở cửa sông,
cách chỗ nước mặn vài dặm. Nhưng cũng có cá hồi thuộc
loại chúa trùm. Nó lội ngược lên đến ngọn nguồn cách
biển tới 3.000 dặm. Trước khi đi đến vùng nước ngọt, cá
hồi như được sống trong điều kiện thoải mái mạnh khỏe,
mập ra. Nhưng ngay khi vào đến nơi, cá hồi bắt đầu nhịn
ăn. Đôi khi chúng bị suy kiệt vì ráng đến tận nơi chúng
muốn đến để đẻ trứng.
Vì chúng lội ngược nhiều con sông có nhiều ghềnh thác
chảy xiết nên lên đến nơi, cá hồi thường gầy ốm, tiều tụy,
xác xơ vào lúc chúng sinh nở. Nhưng dù có xác xơ hay
còn phốp pháp thì khi đẻ trứng xong là cá hồi Thái Bình
Dương đều chết cả.
Khi tới đúng chỗ đẻ trứng (thường cũng là nơi trước kia
chúng ra đời trong dạng cái trứng), con cá hồi cái dùng
đuôi, vây và chính thân mình đào một cái lỗ trong đá, đất
hoặc cát rồi đẻ trứng vào đó. Con đực sẽ cho thụ tinh. Sau
đó cá hồi cái ấp trứng.
29
Khi mọi việc đã xong thì dường như cá hồi cũng chán
hết mọi sinh thú ở đời. Nó thả mình theo dòng nước trôi
xuôi. Dòng nước đó cũng là nơi nó gởi tấm thân tàn tạ. Và
cũng là lúc mở màn cho trang sử đầu tiên của cá hồi con.
Sáu mươi ngày sau khi ra khỏi lòng mẹ, trứng cá hồi mới
nở. Cá hồi con sẽ ở lại vùng nước ngọt trong vài tháng, có
khi đến một năm rồi lại theo dòng sông để vào biển cả.
Cái vòng sinh tử cứ thế quay đều, từ thế hệ này sang thế
hệ khác, không bao giờ thay đổi.
15
Cá thở như thế nào?
Cách nay cả hàng trăm ngàn năm, trước khi cả người
nguyên thủy xuất hiện trên mặt đất thì cá đã bơi lội tung
tăng trong các đại dương. Vào thời đó mà cá đã đạt tới
trì...
 





