Dạy bé các phương tiện giao thông | Vạn điều hay cho bé
Góc nhìn sử Việt Nhà Tây Sơn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:51' 17-04-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:51' 17-04-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
LỜI ĐẦU SÁCH.
LỜI THƯA.
ẤP TÂY SƠN.
NHÀ TÂY SƠN.
TÂY SƠN KHỞI NGHĨA.
ANH HÙNG NGHĨA SĨ GIÚP NHÀ TÂY SƠN DỰNG NGHIỆP.
NHÀ TÂY SƠN ĐÁNH NHÀ NGUYỄN Ở MẶT BẮC.
ĐÁNH VỚI NHÀ NGUYỄN Ở MẶT NAM.
TÂY SƠN VƯƠNG SỬA THÀNH ĐỒ BÀN VÀ XƯNG ĐẾ HIỆU.
NGUYỄN PHÚC ÁNH XƯNG VƯƠNG - TÂY SƠN BÌNH GIA ĐỊNH.
TÂY SƠN PHÒ LÊ DIỆT TRỊNH.
CẢNH NỨT RẠN TRONG NHÀ TÂY SƠN.
BẮC BÌNH VƯƠNG ĐỐI PHÓ MẶT BẮC.
CHIÊU THỐNG RƯỚC TÀU VỀ ĐÁNH TÂY SƠN.
VUA QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH.
VUA QUANG TRUNG ĐỐI NGOẠI.
VUA QUANG TRUNG VÀ VẤN ĐỀ NỘI TRỊ.
VUA QUANG TRUNG BĂNG HÀ, NGUYỄN QUANG TOẢN KẾ VỊ.
NGUYỄN PHÚC ÁNH NỔI DẬY ĐÁNH TÂY SƠN.
TÌNH HÌNH DIÊN KHÁNH VÀ PHÚ XUÂN.
CUỘC ĐẠI CHIẾN Ở QUY NHƠN GIỮA HAI NHÀ NGUYỄN.
TRẦN QUANG DIỆU CHIẾM BÌNH ĐỊNH, NGUYỄN PHÚC ÁNH CHIẾM PHÚ XUÂN.
CẢNH THỊNH RA BẮC THÀNH, NGUYỄN PHÚC ÁNH XƯNG ĐẾ HIỆU.
SỰ TRẢ THÙ CỦA NHÀ NGUYỄN ĐỐI VỚI NHÀ TÂY SƠN.
LÒNG DÂN ĐỐI VỚI NHÀ TÂY SƠN.
THAY LỜI KẾT.
PHỤ LỤC.
MỘT TỒN NGHI LỊCH SỬ - ĐÔ ĐỐC LONG LÀ AI?
SÁCH THAM KHẢO.
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT.
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
LỜI ĐẦU SÁCH.
Kỷ niệm lần thứ 200 chiến thắng Ngọc Hồi - Ðống Ða lịch sử, dân tộc ta nhớ lại chiến công
oanh liệt của nghĩa quân Tây Sơn với Quang Trung bách chiến bách thắng, quét sạch 29 vạn
quân Thanh xâm lược ra khỏi bờ cõi, giữ vững độc lập và thống nhất tổ quốc vừa được lập lại
với sự nổi dậy bão táp của phong trào Tây Sơn. Kỷ niệm lần thứ 200 chiến thắng Ngọc Hồi Ðống Ða, không chỉ ôn lại cuộc tiến công thần tốc và chiến tích bình Thanh, mà còn làm sống
dậy hùng khí Tây Sơn gắn liền với tên tuổi các lãnh tụ kiệt xuất Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ,
Nguyễn Lữ và tên tuổi các tướng lĩnh anh hùng đã xây dựng phong trào từ trứng nước, cũng
như các tướng lĩnh quy tụ với phong trào sau khi nhà Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa.
Trên tinh thần đó, tác phẩm Nhà Tây Sơn của nhà văn lão thành Quách Tấn và con trai là anh
Quách Giao do Sở Văn hóa Thông tin Bình Ðịnh xuất bản ra mắt bạn đọc trong dịp này góp
phần kỷ niệm 200 năm chiến thắng Ngọc Hồi - Ðống Ða lịch sử. Tác phẩm này là kết quả của
một tâm huyết lớn, khao khát thể hiện lại sự thật lịch sử trên chính mảnh đất chôn nhau cắt
rốn của tác giả: “Những gì tôi được nghe, được thấy, được biết trong đời mà còn nhớ lại trong
tuổi già, nếu không viết ra cho quê hương, con cháu, e rằng sẽ vĩnh viễn mang theo xuống ba
tấc đất”. Với nguyện vọng và niềm ưu tư đó, trong những năm cuối đời, tuy hay đau yếu, bị mất
một mắt và mắt còn lại rất mờ, nhà văn lão thành Quách Tấn đã trên 80 tuổi vẫn làm việc mê
say và nghiêm túc với sự giúp đỡ đắc lực của con trai để thực hiện tác phẩm Nhà Tây Sơn và tự
mình mò mẫm viết nhiều tác phẩm giàu tính tư liệu khác về quê hương Bình Ðịnh.
Lịch sử nhà Tây Sơn là vấn đề lớn được giới nghiên cứu sử học và toàn thể nhân dân ta quan
tâm tìm hiểu. Nhiều tác phẩm đã viết về thời đại Tây Sơn, viết về những anh hùng dân tộc thời
Tây Sơn, tuy chưa thật đầy đủ, nhưng những gì đã được công bố và tổng kết trong các bộ sách
là rất công phu và chính xác. Nhưng khi đọc Nhà Tây Sơn, bên cạnh những chi tiết mới và tỉ mỉ
chỉ có ở tác phẩm này, còn có những chi tiết khác hẳn so với các tài liệu và sách báo đã có, về
tên cha mẹ của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, hay việc xác định quê quán
của Đô đốc Trần Quang Diệu, mối liên quan giữa các tướng lĩnh Tây Sơn như Bùi Thị Xuân và
Ngô Văn Sở, Đô đốc Ðặng Văn Long và Đô đốc Ðặng Tiến Ðông… Chúng tôi đã trực tiếp làm việc
và trao đổi với tác giả trước khi in Nhà Tây Sơn. Nhà văn Quách Tấn cho biết rằng tác phẩm
này đã được viết với phương châm ghi chép lại các sự kiện lịch sử chính xác theo sự phản ánh
của nhân dân địa phương, cụ thể là theo lời truyền của các bậc trưởng thượng từng sống thời
Tây Sơn ở đất Tây Sơn, và chính xác theo các tư liệu lịch sử đáng tin cậy gồm 12 bộ sử ký về
Tây Sơn được nhân dân bảo tồn qua sự trả thù ghê gớm của triều đình nhà Nguyễn. Cùng với
các tài liệu lịch sử trong và ngoài nước có liên quan tới phong trào Tây Sơn (xem bảng kê sách
tham khảo). Nói như vậy, không có nghĩa Nhà Tây Sơn là một quyển sử ký. Ðây chỉ là, như ý
kiến khiêm tốn của tác giả, một tập ghi chép chuyện đã xảy ra trong lịch sử về một thời đại vẻ
vang của dân tộc với sự đầy đủ nhất định các chi tiết thật, con người thật cùng những huyền
thoại mà ba anh em Tây Sơn dựng nên để thu phục nhân tâm buổi đầu dấy nghĩa. Ở đó, chi tiết
thật và chuyện hoang đường không bị nhòa lẫn vào nhau, các sự việc được ngòi bút tác giả
đảm bảo ở tính cụ thể và công bằng.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu Nhà Tây Sơn với bạn đọc. Nhân đây, chúng tôi xin tỏ lòng
chân thành biết ơn đối với tác giả và kính mong bạn đọc gần xa có ý kiến đóng góp về tác phẩm
này.
HỒNG NHÂN
Nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Nghĩa Bình
LỜI THƯA.
Tập Nhà Tây Sơn này, tôi viết theo những tài liệu của cha tôi là Quách Tấn đã sưu tầm, tập
hợp và ghi chép lại.
Trước khi viết, trong khi viết và sau khi viết xong, tôi đã được cha tôi hướng dẫn và uốn nắn
sửa chữa những chỗ chưa phản ánh đúng, đầy đủ sự việc và tinh thần.
Gia tộc tôi sinh cư lâu đời tại xứ Tây Sơn.
Từ nhỏ chúng tôi đã được nghe cha tôi và các thân sĩ kỳ cựu trong vùng trao đổi với nhau
những chuyện về Tây Sơn. Và trong gia đình, cha tôi cũng thường kể cho con cháu nghe những
chiến công oanh liệt của nhà Tây Sơn, gây lòng tự hào, kính phục.
Thời trung học, tôi cũng đã học sử Tây Sơn, cũng đã đọc nhiều sách về Tây Sơn. Nhưng tài
liệu thì nghèo nàn và sự việc có nhiều điểm không giống những điều tôi đã được nghe truyền.
Cha tôi đã nhiều lần giải thích sự sai biệt ấy, cho biết rằng:
A.
Do ngòi bút kẻ viết sử thời ấy xuyên tạc, giấu bớt sự thật cho vừa lòng nhà
Nguyễn Gia Miêu đang thống trị.
Do các sử gia thời ấy ở xa (miền Bắc nên không sát).
Do sự đàn áp của chính quyền rất khốc liệt, nhân dân địa phương có liên quan
trực tiếp với Tây Sơn ngậm miệng không dám nói lại rõ sự thật.
B.
Mà sự thật về Tây Sơn từ khi nhen nhóm cuộc đại nghĩa đến lúc bại vong rất phong phú,
nhiều gia phả còn ghi, nhiều cháu con các danh tướng, danh thần còn nhớ biết và truyền lại.
Các sách ghi chép của các nhà Nho yêu nước sống gần thời ấy về sau có ghi chép lại.
Cha tôi đã có ý muốn viết lại lịch sử Tây Sơn cho đủ hơn, đúng hơn, để lưu lại những điều hay,
đẹp, cao cả của ông cha cho con cháu về sau biết mà tự hào, tự cường. Vì vậy, từ năm 1930 đến
1945, suốt 15 năm, cha tôi đã sưu tập, ghi lại, tiếp xúc và đi đến cả một số nơi xảy ra các sự
kiện lịch sử ấy để quan sát để thông cảm với cổ nhân.
Số tài liệu khá phong phú. Nhưng đến năm 1945, gia đình về Bình Ðịnh, tài sản sách vở để lại
nhà ở Nha Trang, bị giặc Pháp chiếm. Mãi đến năm 1954, hòa bình lập lại, trở về Nha Trang thì
chỉ còn một cái nhà trống trơn, tài sản, sách vở, tài liệu đều mất cả!
Từ năm 1955 đến nay, cha tôi làm lại cuộc sưu tập, tiếp xúc, ghi chép… nhưng một số tài liệu
chính thức nay không tìm lại được, nhiều người hiểu rõ sự việc (truyền lại trong gia đình) đã
chết hoặc đi biệt tích… Tuy nhiên số tài liệu mới thu thập trong thời gian này cũng khá phong
phú. Lại một lần nữa bị mất mát trong cuộc tháo chạy tháng Tư năm 1975. Tài liệu gom góp,
sách vở ghi chép trong 20 năm trường, mười phần không còn được một.
Cha tôi nay đã già yếu - 76 tuổi rồi - tự thấy khó mà sưu tập được nữa, và sợ cũng không đủ
sức ngồi viết lại những điều đã tìm, đã nghe, đã ghi chép suốt 50 năm nay, nên bảo tôi nghiên
cứu các tài liệu còn sót lại theo sự bổ sung, hướng dẫn, giải thích của cha tôi, cố gắng viết kỹ lại
cho con cháu biết được rõ hơn về nhà Tây Sơn.
Tôi ra công viết từ đầu năm 1983 và viết xong vào cuối xuân 1984.
Theo ý kiến của cha tôi, tập này không thể gọi là một cuốn lịch sử, vì tài liệu, một số chưa
được phối kiểm chặt chẽ.
Ðây chỉ là một số tư liệu được chọn lọc, sắp xếp có hệ thống, những điều mà chúng tôi thấy
nên chép, đáng chép. Nghe sao chép vậy, có nhiều sự việc chính xác, cũng có sự việc chỉ cắm
một hoa tiêu để làm dấu cho những người sau tiếp tục khai tầm. Lại có cả những chuyện hoang
đường theo kiểu Hán Cao Tổ chém rắn, kiểu sâu đục lá cây thành Lê Lợi vi vương Nguyễn Trãi vi
thần trong sử sách cổ. Cha tôi bảo cần ghi lại, vì đó chỉ là những biện pháp tuyên truyền cổ
động ngày xưa dựa vào thần quyền, dị đoan, và sự thực là nó cũng có ít nhiều tác dụng.
Các bộ sử trước viết về Tây Sơn thường chỉ chú trọng đến vua Quang Trung. Ðúng. Vì chính
vua Quang Trung mới thật là người có công với dân tộc. Nhưng xét kỹ nếu không có vua Thái
Ðức đổ nền đắp móng, thì chắc gì một mình vua Quang Trung đã có thể hoàn thành ngôi nhà
Tây Sơn? Các sách cũng ít nói đến các tướng võ các quan văn đã giúp nhà Tây Sơn xây dựng sự
nghiệp. Trong tập tư liệu này, chúng tôi mong lấp được phần nào những chỗ khuyết ấy.
Chúng tôi lại đưa ra một đôi chi tiết làm sáng tỏ nghĩa chữ Trung mà phần đông người Bình
Ðịnh đã theo từ xưa đến nay: Không phải trung với vua, mà trung với Tổ quốc, với Dân tộc,
không phải trung với một người hay một nhà, mà trung với nghĩa vụ tận ngã nghĩa vụ, tức là
TẬN KỶ theo đạo đức cổ truyền. Và thái độ không tranh quyền vị của các quan văn võ thời Thái
Ðức, Quang Trung, thái độ không noi gương phần đông di thần của vua Chiêu Thống khi nhà Lê
mất, của các danh tướng danh thần của Tây Sơn còn sống sót sau khi vua Cảnh Thịnh bị Gia
Long giết, chứng tỏ rằng phần đông người Bình Ðịnh không bị cái học Trung Quân của Hán
Nho nhồi sọ.
Ðó là mục đích viết tập Nhà Tây Sơn này.
Viết xong, vâng lời cha tôi, tôi trình lên cho hai bác là bác Lộc Ðình, bác Giản Chi, cùng hai
chú là chú Nguyễn Ðồng, chú Quách Tạo nhã chính. Hai bác đã chỉ cho những chỗ sai lầm, hai
chú đã thêm cho những điều thiếu sót, và ban cho những lời khuyến lệ. Tôi hết sức vui mừng.
Ðể cho Nhà Tây Sơn được hoàn hảo, cúi mong thêm sự chỉ giáo của các bậc cao minh.
QUÁCH GIAO
ẤP TÂY SƠN.
Ấp Tây Sơn là nơi phát tích của Bình Ðịnh tam hùng: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ.
Ấp gồm phần đất An Khê và phần đất Bình Khê, tỉnh Bình Ðịnh.
Và chia làm ba phần: Tây Sơn Thượng là vùng An Khê.
Tây Sơn Trung từ chân đèo An Khê đến Hữu Giang, Tả Giang.
Tây Sơn Hạ từ Trinh Tường, Phú Lạc đến Thọ Lộc, Lai Nghi, Thú Thiện, An Chánh, Vân
Tường, Kỳ Sơn, Thuận Truyền, Thuận Hạnh...
Cụm tháp Bình Nghi (Thú Thiện) ở phía nam sông Côn và cụm tháp Dương Long ở phía bắc
sông Côn là hai trụ ranh giới phía đông của ấp.
Phía đông là đồng bằng phì nhiêu.
Phía tây và phía nam, núi non hiểm trở, điệp điệp trùng trùng.
Phía bắc, nửa trên là núi dính liền với dãy núi phía tây, nửa dưới là đồng bằng dính liền với
đồng bằng phía đông.
Dòng sông Côn phát nguyên trên dãy Trường Sơn chạy xuống biển Thị Nại, chia ấp Tây Sơn
ra làm hai, nửa phía nam nửa phía bắc, chạy dọc theo dòng sông, tứ mùa lúa dâu bắp đỗ thay
nhau làm tăng vẻ giàu sang cho núi non hùng hiểm.
Núi có nhiều ngọn cao lớn, trông đồ sộ hiên ngang; được nhiều người chú ý là những ngọn có
di tích lịch sử, như:
Ở vùng An Khê có núi Hiển Hách, tục gọi là Hảnh Hót, sử chép là Hinh Hốt. Ðó là một danh
sơn có nhiều cây quý và chung quanh có nhiều ngọn núi quy triều. Núi vùng An Khê liên tiếp
với vùng cao nguyên ở phía tây và phía đông đèo An Khê nối liền Tây Sơn Thượng với Tây Sơn
Trung.
Ðèo An Khê, xưa gọi là đèo Vĩnh Viễn, cao 740 thước và dài trên 10 cây số, chạy từ tây xuống
đông đường đi rất hiểm trở. Trước kia, lúc Quốc lộ 19 chưa mở, hành khách qua lại phải chịu
nhiều gay go. Dọc đèo có nhiều nơi dốc ngược, đá mọc lởm chởm, có khúc phải dãng hai chân
mà leo mới khỏi té. Nơi này tục gọi là dốc Chàng Hảng. Dưới dốc Chàng Hảng về phía đông có
một cái nghẹo, nơi nghẹo có một cây khế rất sai quả. Khách qua đèo thường dừng chân nơi gốc
khế để nghỉ ngơi và giải khát. Nghẹo ấy gọi là nghẹo Cây Khế. Cách nghẹo Cây Khế chừng vài
trăm bước có hai cây cổ thụ, thân cao tàn cả. Một cây ké, một cây cầy. Ðó cũng là hai trạm nghỉ
chân của hành khách.
Dưới chân đèo, thuộc Tây Sơn Trung, núi cũng cao chớm chở như vùng Tây Sơn Thượng.
Ngọn núi có danh nhất là hòn Ông Bình. Núi tuy không cao lắm chỉ có 793 thước, song trông rất
kỳ vĩ và có vẻ bí hiểm. Cây cối sầm uất, ngó mịt mờ thăm thẳm như không có đường lưu thông.
Nhưng kỳ thật thì có nhiều nẻo vào ra, thông thương với các ngọn núi chung quanh cùng các
con đường hẻo lánh trong vùng. Ðối trĩ(1) cùng hòn Ông Bình, có hòn Ông Nhạc, khí thế cũng
rất hùng hiểm.
Từ hòn Ông Nhạc núi chạy từng lớp, từng lớp, lớp chạy thẳng vào Nam, lớp chạy xiên xiên
xuống hướng đông - nam. Danh sơn đều nằm trong dãy Ðông Nam. Trước hết là hòn Tâm Phúc
hình như chiếc nón lá, nhiều cổ thụ và heo rừng.
Ðồn rằng núi rất linh thiêng vì bà Thiên Y A Na thường tới lui hào quang sáng chói. Trong
núi, hễ lúc mặt trời gần lặn, người ta thường nghe tiếng ụt heo inh ỏi. Người địa phương bảo
đó là tiếng của bộ hạ của bà Thiên Y. Núi Tâm Phúc có tên nữa là núi Bà Phù.
Ðối trĩ cùng núi Bà Phù có núi Màn Lăng. Thầy địa lý gọi Màn Lăng là hòn Nhật, hòn Bà Phù là
hòn Nguyệt.
Giữa Màn Lăng và Bà Phù có một thung lũng bằng phẳng và kín đáo, tục gọi là Hóc Yến.
Qua khỏi Hóc Yến đến núi Ðồng Phong tục gọi là hòn Lãnh Lương.
Ði xuống nữa, đến địa đầu Tây Sơn Hạ, thôn Trinh Tường, đến dãy Hoành Sơn tục gọi là núi
Ngang.
Những ngọn núi từ hòn Ông Nhạc chạy xuống đều chạy theo hàng dọc. Hòn Hoành Sơn lại
chạy ngang.
Hoành Sơn chỉ cao 364 thước, nhưng dài và rộng. Phía tây và phía nam, dòng suối Ðộng Tre
và chi lưu ôm sát bên chân. Sông Côn chạy dài ở phía bắc. Trước mặt đồng Trinh Tường tiếp
đồng Phú Phong, mênh mông bát ngát.
Hoành Sơn là đại địa, vì có nào bút, nào nghiên, nào ấn, nào kiếm, nào chung, nào cổ, ở bên tả
bên hữu. Và trước mặt, trên ba nổng gò đất, đá mọc giăng hàng giống như những toán lính
đứng hầu, xa xa có long bàn hổ phục.
Bút là hòn Trưng Sơn ở thôn Phú Lạc bên kia sông Côn, xa trông như ngòi bút chép mây.
Nghiên là hòn núi Hợi Sơn tục gọi hòn Dũng, trong địa phận Trinh Tường về phía nam, đứng
đối trĩ cùng hòn Trưng Sơn ở phía bắc. Trên đầu núi có một vũng nước vừa rộng vừa sâu,
quanh năm không bao giờ cạn. Dân hàn mặc(2) coi vũng nước là nghiên mực của trời nên gọi
hòn Dũng là Nghiên Sơn tức hòn Nghiên.
Hòn Nghiên và hòn Bút nằm bên tả bên hữu hòn núi Ngang, trông rất cân đối. Ðứng xa mà
ngắm thì hòn núi Ngang là bức bình phong còn hòn Nghiên hòn Bút là hai trụ ba biểu(3).
- Sát bên chân và trước mặt núi Ngang, có hai hòn núi nhỏ là hòn Một và hòn Giải. Hòn Một
giống hình cái chuông, nên cổ nhân gọi là Chung Sơn. Hòn Giải giống như cái trống chầu nên có
tên gọi là Cổ Sơn. Nhìn chung, thật giống chuông và mõ đặt trước án thờ.
- Hòn Giải, đứng phía bắc trông vào thì giống cái trống, nhưng đứng phía đông mà nhìn lại
phảng phất một quả ấn. Vì vậy hòn Giải còn có tên nữa là Ấn Sơn.
Ðặt cho hòn Giải tên Ấn chẳng phải chỉ vì hình dáng, mà còn vì phía đông cách Hoành Sơn
không xa có hòn núi thấp mà dài mệnh danh là Kiếm Sơn tức hòn Kiếm. Ðã có kiếm thì phải có
Ấn mới đủ đôi.
- Phía trên hòn Kiếm cũng trong phần đất Trinh Tường có hòn ông Ðốc, hình thù giống như
một con hổ phục, đầu ngó lên Hoành Sơn, đó là “Hổ cứ” như trên đã nói.
- Còn dòng sông Côn đến cuối Trinh Tường, đầu Phú Phong thì nhận nước con sông Ðá Hàng,
một chi lưu từ Ðồng Le ở phía nam chảy ra. Hai ngả sông này tạo thế “long bàn” ôm choàng lấy
cuộc đất núi Ngang.
Từ núi Ngang (Hoành Sơn) trở vô, càng vô trong, núi càng cao. Nhiều ngọn cao trên dưới
nghìn thước, trừ các thợ rừng tuổi tác, người đồng bằng ít ai biết tên. Người ta gọi chung cả
dãy là Núi Xanh vì đứng ngoài nhìn vào sắc núi xanh như nhuộm.
Từ núi Ngang trở xuống Tây Sơn Hạ, càng xuống, núi càng chạy xiên vào nam, nhượng chỗ
cho đồng bằng.
Ðó là núi non nằm phía nam sông Côn.
Phía bắc sông Côn, núi vùng Tây Sơn Trung cũng có nhiều ngọn cao lớn. Như hòn Ngăn, hòn
Bong Bóng ở Vĩnh Thạnh, trông có vẻ ngang ngược như muốn ngăn lối chặn đường thiên hạ đi
rừng. Bốn mặt lại có suối khe bao bọc. Thế rất hiểm. Phía đông hòn Ngăn, cách một dòng suối,
có hai ngọn núi cao ngất, đứng song song như hai răng nanh. Ðó là hòn Vỏ Cá và hòn Da Két.
Núi càng đi xuống đông thì càng thấp dần.
Sau hòn Vỏ Cá, hòn Da Két, còn hòn Bạc Má và hòn Nước Ðỏ. Hai hòn này có thể coi là một,
nếu không có đèo Bồ Bồ chạy ở giữa. Ðèo mở đường giao thông cho khách ở phía đông lên phía
tây, ở phía tây xuống phía đông. Núi đèo đều có hình thù và sắc thái đặc biệt, không thể tả nổi.
Xuống đến Tây Sơn Hạ thì núi không còn liền dây. Hòn Trưng Sơn ở Phú Lạc là hòn núi cao
nhất vùng.
Hòn Trưng chỉ cao 422 thước, nhưng trông rất khôi hùng. Trông gần thì mập mạp hung hăng
như con bò đực sung sức lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu. Nên người địa phương gọi là hòn
Sung. Ở xa thì giống như ngọn bút, cùng với hòn Nghiên bên kia sông Côn làm bạn văn chương
như trên kia đã nói. Lưng núi thì nổi từng vồng u như bị đánh sưng, nên nhiều người gọi là hòn
Sưng thay Sung. Theo các phụ lão địa phương thì núi có tất cả chín cục u, gọi là “Cửu diệu tinh”.
Hai u lớn nhất, một trông giống răng bò nghé, gọi là Ðộc Xỉ, một giống u bò nghé, gọi là Độc
Nhũ. Trong các sách địa phương chí xưa, nhiều sách lấy tên hai cục này để gọi hòn Trưng Sơn:
Ðộc Xỉ Sơn, Ðộc Nhũ Sơn.
Trưng Sơn là Tổ sơn trong vùng núi ở bắc ngạn sông Côn. Mặt hướng về đông nam và lấy dãy
Sơn Triều Sơn ở Cầu Gành thuộc An Nhơn, làm tiền án. Còn sơn mạch thì lại chạy thẳng xuống
hướng đông, đến hòn Mạ Thiên Sơn, tục gọi là hòn Mò O - ở giữa An Nhơn và Phù Cát - thì hồi
cố. Phía trước mặt và hai bên tả hữu, gò đống nổi đầy, cuồn cuộn nhấp nhô như sóng biển. Và
những ngọn núi ở xung quanh đều xây mặt về triều, cũng như các vị đại thần đứng chầu một
đấng anh quân. Còn những gò đống kia là những quân lính dàn hầu.
Từ hòn Trưng Sơn trở xuống là đồng bằng, nếu không có con sông Côn, thì cánh đồng này
liền với cánh đồng phía nam.
Giữa cánh đồng, rải rác nổi lên những hòn núi đất, như hòn Hương Sơn, hòn Trà Sơn, hòn
Khánh Long, hòn Chà Rang.
Hòn Hương Sơn giống như con chó nằm ngủ.
Hòn Trà Sơn và hòn Khánh Long thì giống như hai con cừu.
Ba hòn núi này là ba hòn núi trọc. Hòn Chà Rang không có hình dáng đặc biệt như ba hòn núi
kia, nhưng có nhiều cây chà là, đến mùa trái chín thì người ta rủ nhau lên hái rất đông đảo, cho
nên có tiếng.
Núi non vùng đất Tây Sơn đại khái là thế.
Nói tóm lại về hình thế và vùng đất Tây Sơn như sau:
Tây Sơn Thượng gồm trọn vùng An Khê, núi non trùng điệp, đất bằng ít.
Tây Sơn Trung gồm phần đất từ chân đèo An Khê chạy xuống đến cuối Bình
Giang. Hòn Núi Ngang làm mốc ranh giới cho hai vùng Trung, Hạ. Vùng Trung
cũng như vùng Thượng, núi nhiều hơn đồng.
Tây Sơn Hạ bắt đầu từ Trinh Tường trở vô, Phú Lạc trở ra và chạy xuống đến Thú
Thiện. Thọ Lộc trở vô, An Chánh, Vân Tường trở ra. Ðồng bằng chiếm gần trọn
vùng.
Dòng sông Côn làm sợi tim đèn cho hai vùng Trung Hạ.
Núi non thì hùng hiểm. Ðồng ruộng thì phì nhiêu. Rõ có thể dụng binh. Cho nên cuộc khởi
nghĩa của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ trước kia và cuộc khởi nghĩa của
Mai Xuân Thưởng thời Pháp sang Việt Nam, đều phát xuất tại vùng Tây Sơn(4).
NHÀ TÂY SƠN.
Ấp Tây Sơn là nơi phát tích của ba anh em nhà anh hùng dân tộc Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ,
Nguyễn Lữ, cho nên sử gọi ba anh em là Nhà Tây Sơn.
Tổ tiên nhà Tây Sơn vốn họ Hồ, ở làng Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Tổ
quán ở dưới chân hòn Thái Sơn, một hòn núi nhỏ đứng bên cạnh hòn Ðại Hải, một danh sơn
tỉnh Nghệ.
Họ Hồ vào lập nghiệp ở Quy Nhơn(5), tức Bình Ðịnh thời Thịnh Ðức nhà Lê (1653-1657), ứng
với đời Lê Thần Tông (1649-1662) ở Ðàng Ngoài, đời Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) ở Ðàng
Trong. Bắt đầu từ đời ông cố, đến Nguyễn Huệ là đời thứ bốn.
Ông cố tên là Hồ Phi Long, vào ở giúp việc nông trang cho nhà họ Ðinh thôn Bằng Châu,
huyện Tuy Viễn (tức An Nhơn). Thấy họ Hồ là người trung hậu cần mẫn, họ Ðinh cưới vợ cho
(có thuyết bảo là gả con gái) và nuôi cả vợ chồng, coi như người thân quyến.
Họ Hồ sinh được một trai, đặt tên là Hồ Phi Tiễn. Lớn lên Hồ Phi Tiễn tỏ ra khôn ngoan lanh
lợi, song sức yếu không thể làm nông. Họ Ðinh bèn giúp vốn để đi buôn.
Thời bấy giờ trầu nguồn rất có giá, song người đồng ruộng ít người chịu khó vượt suối đèo
để đi kiếm lợi. Hồ lang bèn mang tiền lên ấp Tây Sơn buôn trầu. Ði buôn gặp người vừa ý mới
kết nghĩa vợ chồng, và để tiện việc làm ăn Hồ lang cất nhà nơi quê vợ.
Bà vợ tên là Nguyễn Thị Ðồng ở thôn Phú Lạc thuộc Tây Sơn Hạ. Bà Ðồng là con duy nhất của
một phú thương (buôn trầu) đất Phú Lạc. Ðể con mình hưởng trọn gia tài và đời đời giữ hương
hỏa bên ngoại, bà Ðồng thương lượng cùng chồng cho con mang họ Nguyễn. Việc đổi họ đối
với ông Hồ Phi Tiễn không có gì trở ngại vì chẳng những hợp tình mà cũng hợp lý do việc tiền
nhân là Hồ Quý Ly đã từng mang họ Lê là họ của cha nuôi từ nhỏ cho đến khi lên ngôi thay nhà
Trần trị thiên hạ. Vì vậy con ông Hồ Phi Tiễn mang họ Nguyễn từ lúc sơ sanh: Nguyễn Phi Phúc.
Lớn lên ông Phúc cũng chuyên nghề buôn trầu và lập trường buôn trầu tại chợ Kiên Mỹ gần
sông Côn(6). Trầu trên nguồn chở xuống, người ở miền dưới lên mua trầu đều đi đường thủy,
theo dòng sông Côn. Chợ Kiên Mỹ mỗi tháng có sáu phiên, phiên nào cũng đông người mua
bán. Ðến khi trường trầu của ông Phúc mở, chợ càng ngày càng thịnh vượng thêm. Trên bộ thì
người chen chúc nhau, dưới sông thì thuyền lớp đậu lớp xuống lên chật cả bến. Kiên Mỹ trở
thành một thị trấn và ông Phúc trở thành một phú thương có uy tín nhất trong vùng. Ông kết
duyên cùng bà Mai Thị Hạnh(7). Bà Hạnh là cao cao tổ cô của anh hùng Mai Xuân Thưởng. Vì
vậy nên trong bản án của Mai anh hùng do triều đình Huế buộc tội có câu: Dương vị Hàm Nghi
khởi nghĩa, âm vị ngụy Nhạc phục thù.
Ông Phúc sanh ba người con trai:
Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ tức Nguyễn Bình, Nguyễn Lữ.
Ngoài đời cũng như trong sách sử không nói rõ ba ông sinh năm nào.
Chỉ nghe các cụ phụ lão truyền rằng ông Nhạc lớn hơn ông Huệ đến 10 tuổi, và ông Huệ hơn
ông Lữ 1 tuổi.
Nếu dựa năm băng hà của vua Quang Trung mà tính thì chúng ta cũng có thể đoán được năm
sinh của ba ông.
Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, theo các sử Việt, băng năm Nhâm Tý (1792) hưởng dương 40
tuổi. Như vậy ông Huệ sanh năm Quý Dậu (1753) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 14. Ông Nhạc lớn
hơn 10 tuổi thì sanh năm 1743, tức năm Quý Hợi. Ông Lữ thua ông Huệ 1 tuổi, tức sanh năm
Giáp Tuất (1754).
Ba anh em lớn lên đều thọ giáo ông Trương Văn Hiến tục gọi là Giáo Hiến ở An Thái (An
Nhơn).
Trương Văn Hiến, người Hoan Châu (Hà Tĩnh) anh em thúc bá cùng Trương Văn Hạnh.
Trương Văn Hạnh là một đại thần đời Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát. Vũ Vương mất năm Ất
Dậu (1765), thế tử cũng đã mất từ lâu, con thế tử còn nhỏ, nên tờ di chiếu để lại lập con thứ nhì
của Vũ Vương, tức Nguyễn Phúc Luân (cha Nguyễn Phúc Ánh) lên nối ngôi, Quốc phó Trương
Phúc Loan muốn chuyên quyền, thông đồng với tên hoạn quan Chừ Ðức và Chưởng cơ Nguyễn
Cửu Thống mạo tờ di chiếu giả, lập người con thứ 16 của Vũ Vương là Nguyễn Phúc Thuần, lúc
ấy mới 12 tuổi, lên làm Chúa. Trương Văn Hạnh phản đối, bị Trương Phúc Loan giết chết.
Trương Văn Hiến sợ vạ lây bèn trốn vào An Thái mở trường dạy học.
Ông Trương Văn Hiến dạy cả văn lẫn võ. Người đến xin học văn thì bắt buộc phải học thêm
võ. Những người đến xin học võ thì bắt buộc phải học thêm văn. Bởi có văn không võ thì
thường nhu nhược. Có võ không văn thì thường hay cường bạo. Văn võ phải nương nhau thì
đạo làm người mới giữ được vững.
Cũng như mọi người, ba anh em họ Nguyễn Tây Sơn đều học cả văn lẫn võ, nhưng nặng bên
võ hơn bên văn. Ông Nhạc chuyên học kiếm, ông Huệ chuyên học đao, ông Lữ chỉ học quyền, và
vì sức yếu nên được truyền môn Miên quyền (quyền mềm dẻo như bông, đối lập với Ngạnh
quyền là quyền cứng mạnh), là môn sở trường của Trương công.
Ông Phúc qua đời, ông Nhạc nối nghiệp nhà. Ông Lữ xuất gia theo Minh giáo tục gọi là đạo
Ma Ní, dùng phù phép để chữa bệnh, trừ tà như đạo phù thủy. Ðạo này thịnh hành ở Tây Sơn
Thượng và các miền cao nguyên Trung phần. Chỉ có ông Huệ tiếp tục theo học thầy giáo Hiến.
Ðể tiện việc buôn bán, ông Nhạc dời nhà xuống Kiên Mỹ cạnh trường trầu. Nhà rộng để chứa
bạn hàng. Trước nhà lại mở sân rộng để luyện võ nghệ.
Nhà giàu, võ giỏi, ông Nhạc lại nổi tiếng phong nhã hào hoa nên những tay “anh chị”, những
kẻ khá giả ở các vùng lân cận đều rất thích giao du. Uy thế của ông Nhạc ở địa phương còn hơn
ông Phúc gấp bội. Ðể tỏ lòng kính mến, người đương thời gọi ông Nhạc là ông Hai Trầu. Ông
Huệ là chú Ba Bình hay Ba Thơm. Ông Lữ là thầy Tư Lữ.
Vì ông Nhạc kết duyên với bà Trần Thị Huệ nên để tránh trùng tên với chị dâu, gia đình mới
gọi ông Huệ là Bình. Do đó người địa phương mới gọi thân mật là chú Ba Bình. Tên Bình là tên
gọi ông Huệ lúc còn nhỏ. Còn tên Thơm là do nhân hoa huệ có hương thơm nên gọi thay cho
tên kiêng cữ.
Nhà ông Nhạc từ khi dời xuống Kiên Mỹ, khách khứa mỗi ngày mỗi đông. Chẳng những khách
người Việt mà cả khách người Hoa.
Có một người Hoa tới ở nhà ông Nhạc hàng tháng và ngày ngày cứ đi thơ thẩn nơi các vùng
núi đồi Tây Sơn Hạ. Thường được người Hoa đó lui tới nhất là hòn núi Thơm ở Kiên Thạnh và
dãy núi Ngang ở Trinh Tường. Ông Nhạc đoán biết là thầy địa đi tìm huyệt mả, mới cho người
tâm phúc theo rình. Một hôm thầy địa đến núi Ngang, lấy hai cây trúc để nguyên cành lá đem
cắm nơi triền phía đông, một cây bên nam một cây bên bắc cách nhau chừng vài chục thước,
rồi bỏ đi thẳng. Ông Nhạc ngày ngày đến xem chừng. Mấy hôm sau, cây trúc phía bắc rụng hết
lá và khô dần. Còn cây phía nam, đến ba tháng rồi mà vẫn tươi xanh như lúc mới trồng. Biết đó
là ứng chứng cho biết rằng long mạch nằm nơi cây trúc phía nam, ông Nhạc mừng lắm, bèn nhổ
cây sống trồng vào ngay chỗ cây chết, và cây chết trồng vào chỗ cây sống. Sau ba tháng mười
ngày kể từ ngày trồng hai cây trúc, thầy địa Tàu trở lại. Thấy hai cây trúc đều khô héo hết, thầy
địa cho là giả cuộc, bỏ đi không thèm trở lại nữa. Ông Nhạc bèn bốc mộ ông thân đem táng nơi
chân trúc phía nam.
Lại có thuyết: Ði lang thang trên vùng núi đồi Tây Sơn Hạ ít lâu, thầy địa Tàu bỏ đi mất. Một
năm sau mới trở lại. Lần này thầy mang một chiếc địa bàn và một chiếc tráp nhỏ. Ông Nhạc
đoán biết rằng thầy Tàu đã tìm được huyệt mả đại phát ở vùng Tây Sơn, và chiếc tráp kia đựng
hài cốt tiền nhân của thầy địa, bèn tìm cách đánh đổi. Ông đóng một chiếc tráp in hệt chiếc
tráp của thầy địa và hốt cốt ông thân sinh đựng vào, rồi đợi... Coi được ngày lành, thầy địa
mang địa bàn và tráp đi đến nơi huyệt mả ở núi Ngang. Thầy vừa đến chân núi thì một con cọp
to lớn ở trong bụi gầm một tiếng, nhảy ra vồ. Thầy địa hết hồn, quăng tráp và địa bàn mà chạy.
Hồi lâu thấy cọp không đuổi theo liền quay lại chỗ cũ. Thấy chiếc tráp và địa bàn còn nằm lăn
lóc đó, thầy mừng như chết đi sống lại, vội đi thẳng đến nơi long huyệt mà chỉ một mình thầy
biết. Chôn cất xong, thầy hớn hở quay về Trung Hoa, tuyệt nhiên không ngờ rằng chiếc tráp
thầy chôn đựng di cốt ông Nguyễn Phi Phúc chớ không phải di cốt của tổ tiên thầy và con cọp
kia là con cọp giả do ông Nhạc đẻ ra.
Từ ngày ông Nhạc được huyệt mả, thì gia đình thường gặp nhiều việc may.
Một hôm ông Nhạc mua được một thanh cổ kiếm dài và rất bén. Nhớ ơn thầy cũ, bèn xuống
An Thái dâng cho Trương công.
Trông thấy Nhạc, Trương công giật mình. Vì trước kia, phong cách và tài năng của Nhạc đã
làm cho công thầm khen là người có thể làm được việc lớn. Lúc này thần thái lại tươi sáng hơn
xưa thập phần. Nâng niu xem xét thanh kiếm, công nói:
- Ðây là một thanh bảo kiếm, có đại phước mới vào tay. Tôi giữ hộ cho anh, ngày sau sẽ giao
lại.
Ðoạn bảo Nhạc:
- Lúc này là lúc kẻ anh hùng có thể dựng nên nghiệp cả. Anh không nên để lỡ thời cơ.
Ý quật cường vốn đã nhen nhúm trong người, nhưng Nhạc từ tốn thưa:
- Con tự xét không đủ tài sức.
Công ôn tồn nói:
- Hán Cao Tổ, Lê Thái Tổ đâu có phải từ trên trời sa xuống. Người có chí hễ nắm được thiên
thời, địa lợi, nhân hòa thì đại sự thành công không mấy khó khăn. Hiện giờ Trương Phúc Loan
chuyên quyền làm những việc gian ác, triều đình đảo điên, nhân tâm ly tán. Nếu có người phất
cờ khởi nghĩa thì bốn phương thiên hạ đều hưởng ứng ngay. Ðất Tây Sơn núi non hiểm trở có
cái thế bách nhị(8) tới lui không sức ngoài nào có thể ngăn cản. Anh chỉ có phải lo việc tài
chánh và quân sự nữa là có thể hưng binh.
Rồi gọi ông Huệ ra, bảo:
- Con nay đã lớn khôn, tài nghệ cũng đã vững. Con hãy về nhà giúp anh.
Công lại tặng cho hai anh em hai bộ binh pháp, một của Tôn Ngô, một của Trần Hưng Ðạo.
Hai anh em bái biệt sư phụ về lo việc xây dựng sự nghiệp anh hùng.
Ông Huệ về nhà kết duyên cùng bà Phạm Thị Liên người thôn Phú Phong huyện Tuy Viễn.
Ông Nhạc giao việc buôn trầu cho vợ. Bà Nhạc họ Trần quê ở thôn Trường Ðịnh cách Kiên Mỹ
hai thôn là Thuận Nghĩa và Dõng Hòa, về phía đông. Bà là người hiền đức, làm việc siêng năng,
ăn tiêu kiệm ước, nhưng đối đãi với làng xóm, khách khứa và bạn hàng lại rất rộng rãi dịu dàng.
Vì vậy từ khi quyền điều khiển trường buôn trầu vào tay bà, thì lợi hàng ngày có tăng chớ
không có giảm. Ông Nhạc được rảnh tay để lo việc nước việc dân(9).
Cho rằng mối lợi về việc buôn trầu không thấm vào đâu đối với đại sự, một mặt ông lo tổ
chức việc đánh bạc, mặt khác tổ chức việc khẩn hoang. Và nghĩ rằng một cây làm chẳng nên
non, ông bèn sai ông Huệ đi liên lạc cùng những người có tiếng về văn về võ ở khắp ba huyện
Tuy Viễn, Phù Ly, Bồng Sơn.
Hợp tác cùng anh em ông Nhạc sớm nhất là:
- Nguyễn Thung một phú nông ở Thuận Nghĩa là một thôn trù phú ở sát Kiên Mỹ về phía
đông.
- Võ Văn Dũng, Võ Ðình Tú ở thôn Phú Phong, ở phía nam ngạn sông Côn, nằm song song với
Kiên Mỹ.
- Bùi Thị Xuân, người thôn Xuân Hòa ở dưới Phú Phong, và chồng là Trần Quang Diệu, người
Ân Tín huyện Hoài Ân.
Ðó là những tay võ giỏi. Còn bên văn thì có:
- Võ Xuân Hoài, ở Phú Phong, đồng tông nhưng khác chi với ông Dũng, ông Tú.
- Trương Mỹ Ngọc ở An Nhơn.
Mọi người đều được phân công rành mạch. Người thì lo việc kinh tế tài chánh, người thì lo
việc nhân sự, người thì lo việc quân sự.
Sòng bạc mỗi ngày mỗi mở rộng. Trong số con bạc có nhiều tay dũng sĩ có đại chí. Sòng bạc
trở thành nơi vừa làm lợi vừa chọn nhân tài.
Ông Nhạc cho khẩn hoang nhiều diện tích rộng lớn tại An Khê, tại Thượng Giang (Tây Sơn
Trung), Ðồng Hưu, Ðồng Vụ (Phú Phong, Trinh Tường), Ðồng Quang (Thuận Ninh)… Những
đồng bào mộ đi khai k...
LỜI ĐẦU SÁCH.
LỜI THƯA.
ẤP TÂY SƠN.
NHÀ TÂY SƠN.
TÂY SƠN KHỞI NGHĨA.
ANH HÙNG NGHĨA SĨ GIÚP NHÀ TÂY SƠN DỰNG NGHIỆP.
NHÀ TÂY SƠN ĐÁNH NHÀ NGUYỄN Ở MẶT BẮC.
ĐÁNH VỚI NHÀ NGUYỄN Ở MẶT NAM.
TÂY SƠN VƯƠNG SỬA THÀNH ĐỒ BÀN VÀ XƯNG ĐẾ HIỆU.
NGUYỄN PHÚC ÁNH XƯNG VƯƠNG - TÂY SƠN BÌNH GIA ĐỊNH.
TÂY SƠN PHÒ LÊ DIỆT TRỊNH.
CẢNH NỨT RẠN TRONG NHÀ TÂY SƠN.
BẮC BÌNH VƯƠNG ĐỐI PHÓ MẶT BẮC.
CHIÊU THỐNG RƯỚC TÀU VỀ ĐÁNH TÂY SƠN.
VUA QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH.
VUA QUANG TRUNG ĐỐI NGOẠI.
VUA QUANG TRUNG VÀ VẤN ĐỀ NỘI TRỊ.
VUA QUANG TRUNG BĂNG HÀ, NGUYỄN QUANG TOẢN KẾ VỊ.
NGUYỄN PHÚC ÁNH NỔI DẬY ĐÁNH TÂY SƠN.
TÌNH HÌNH DIÊN KHÁNH VÀ PHÚ XUÂN.
CUỘC ĐẠI CHIẾN Ở QUY NHƠN GIỮA HAI NHÀ NGUYỄN.
TRẦN QUANG DIỆU CHIẾM BÌNH ĐỊNH, NGUYỄN PHÚC ÁNH CHIẾM PHÚ XUÂN.
CẢNH THỊNH RA BẮC THÀNH, NGUYỄN PHÚC ÁNH XƯNG ĐẾ HIỆU.
SỰ TRẢ THÙ CỦA NHÀ NGUYỄN ĐỐI VỚI NHÀ TÂY SƠN.
LÒNG DÂN ĐỐI VỚI NHÀ TÂY SƠN.
THAY LỜI KẾT.
PHỤ LỤC.
MỘT TỒN NGHI LỊCH SỬ - ĐÔ ĐỐC LONG LÀ AI?
SÁCH THAM KHẢO.
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT.
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
LỜI ĐẦU SÁCH.
Kỷ niệm lần thứ 200 chiến thắng Ngọc Hồi - Ðống Ða lịch sử, dân tộc ta nhớ lại chiến công
oanh liệt của nghĩa quân Tây Sơn với Quang Trung bách chiến bách thắng, quét sạch 29 vạn
quân Thanh xâm lược ra khỏi bờ cõi, giữ vững độc lập và thống nhất tổ quốc vừa được lập lại
với sự nổi dậy bão táp của phong trào Tây Sơn. Kỷ niệm lần thứ 200 chiến thắng Ngọc Hồi Ðống Ða, không chỉ ôn lại cuộc tiến công thần tốc và chiến tích bình Thanh, mà còn làm sống
dậy hùng khí Tây Sơn gắn liền với tên tuổi các lãnh tụ kiệt xuất Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ,
Nguyễn Lữ và tên tuổi các tướng lĩnh anh hùng đã xây dựng phong trào từ trứng nước, cũng
như các tướng lĩnh quy tụ với phong trào sau khi nhà Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa.
Trên tinh thần đó, tác phẩm Nhà Tây Sơn của nhà văn lão thành Quách Tấn và con trai là anh
Quách Giao do Sở Văn hóa Thông tin Bình Ðịnh xuất bản ra mắt bạn đọc trong dịp này góp
phần kỷ niệm 200 năm chiến thắng Ngọc Hồi - Ðống Ða lịch sử. Tác phẩm này là kết quả của
một tâm huyết lớn, khao khát thể hiện lại sự thật lịch sử trên chính mảnh đất chôn nhau cắt
rốn của tác giả: “Những gì tôi được nghe, được thấy, được biết trong đời mà còn nhớ lại trong
tuổi già, nếu không viết ra cho quê hương, con cháu, e rằng sẽ vĩnh viễn mang theo xuống ba
tấc đất”. Với nguyện vọng và niềm ưu tư đó, trong những năm cuối đời, tuy hay đau yếu, bị mất
một mắt và mắt còn lại rất mờ, nhà văn lão thành Quách Tấn đã trên 80 tuổi vẫn làm việc mê
say và nghiêm túc với sự giúp đỡ đắc lực của con trai để thực hiện tác phẩm Nhà Tây Sơn và tự
mình mò mẫm viết nhiều tác phẩm giàu tính tư liệu khác về quê hương Bình Ðịnh.
Lịch sử nhà Tây Sơn là vấn đề lớn được giới nghiên cứu sử học và toàn thể nhân dân ta quan
tâm tìm hiểu. Nhiều tác phẩm đã viết về thời đại Tây Sơn, viết về những anh hùng dân tộc thời
Tây Sơn, tuy chưa thật đầy đủ, nhưng những gì đã được công bố và tổng kết trong các bộ sách
là rất công phu và chính xác. Nhưng khi đọc Nhà Tây Sơn, bên cạnh những chi tiết mới và tỉ mỉ
chỉ có ở tác phẩm này, còn có những chi tiết khác hẳn so với các tài liệu và sách báo đã có, về
tên cha mẹ của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, hay việc xác định quê quán
của Đô đốc Trần Quang Diệu, mối liên quan giữa các tướng lĩnh Tây Sơn như Bùi Thị Xuân và
Ngô Văn Sở, Đô đốc Ðặng Văn Long và Đô đốc Ðặng Tiến Ðông… Chúng tôi đã trực tiếp làm việc
và trao đổi với tác giả trước khi in Nhà Tây Sơn. Nhà văn Quách Tấn cho biết rằng tác phẩm
này đã được viết với phương châm ghi chép lại các sự kiện lịch sử chính xác theo sự phản ánh
của nhân dân địa phương, cụ thể là theo lời truyền của các bậc trưởng thượng từng sống thời
Tây Sơn ở đất Tây Sơn, và chính xác theo các tư liệu lịch sử đáng tin cậy gồm 12 bộ sử ký về
Tây Sơn được nhân dân bảo tồn qua sự trả thù ghê gớm của triều đình nhà Nguyễn. Cùng với
các tài liệu lịch sử trong và ngoài nước có liên quan tới phong trào Tây Sơn (xem bảng kê sách
tham khảo). Nói như vậy, không có nghĩa Nhà Tây Sơn là một quyển sử ký. Ðây chỉ là, như ý
kiến khiêm tốn của tác giả, một tập ghi chép chuyện đã xảy ra trong lịch sử về một thời đại vẻ
vang của dân tộc với sự đầy đủ nhất định các chi tiết thật, con người thật cùng những huyền
thoại mà ba anh em Tây Sơn dựng nên để thu phục nhân tâm buổi đầu dấy nghĩa. Ở đó, chi tiết
thật và chuyện hoang đường không bị nhòa lẫn vào nhau, các sự việc được ngòi bút tác giả
đảm bảo ở tính cụ thể và công bằng.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu Nhà Tây Sơn với bạn đọc. Nhân đây, chúng tôi xin tỏ lòng
chân thành biết ơn đối với tác giả và kính mong bạn đọc gần xa có ý kiến đóng góp về tác phẩm
này.
HỒNG NHÂN
Nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Nghĩa Bình
LỜI THƯA.
Tập Nhà Tây Sơn này, tôi viết theo những tài liệu của cha tôi là Quách Tấn đã sưu tầm, tập
hợp và ghi chép lại.
Trước khi viết, trong khi viết và sau khi viết xong, tôi đã được cha tôi hướng dẫn và uốn nắn
sửa chữa những chỗ chưa phản ánh đúng, đầy đủ sự việc và tinh thần.
Gia tộc tôi sinh cư lâu đời tại xứ Tây Sơn.
Từ nhỏ chúng tôi đã được nghe cha tôi và các thân sĩ kỳ cựu trong vùng trao đổi với nhau
những chuyện về Tây Sơn. Và trong gia đình, cha tôi cũng thường kể cho con cháu nghe những
chiến công oanh liệt của nhà Tây Sơn, gây lòng tự hào, kính phục.
Thời trung học, tôi cũng đã học sử Tây Sơn, cũng đã đọc nhiều sách về Tây Sơn. Nhưng tài
liệu thì nghèo nàn và sự việc có nhiều điểm không giống những điều tôi đã được nghe truyền.
Cha tôi đã nhiều lần giải thích sự sai biệt ấy, cho biết rằng:
A.
Do ngòi bút kẻ viết sử thời ấy xuyên tạc, giấu bớt sự thật cho vừa lòng nhà
Nguyễn Gia Miêu đang thống trị.
Do các sử gia thời ấy ở xa (miền Bắc nên không sát).
Do sự đàn áp của chính quyền rất khốc liệt, nhân dân địa phương có liên quan
trực tiếp với Tây Sơn ngậm miệng không dám nói lại rõ sự thật.
B.
Mà sự thật về Tây Sơn từ khi nhen nhóm cuộc đại nghĩa đến lúc bại vong rất phong phú,
nhiều gia phả còn ghi, nhiều cháu con các danh tướng, danh thần còn nhớ biết và truyền lại.
Các sách ghi chép của các nhà Nho yêu nước sống gần thời ấy về sau có ghi chép lại.
Cha tôi đã có ý muốn viết lại lịch sử Tây Sơn cho đủ hơn, đúng hơn, để lưu lại những điều hay,
đẹp, cao cả của ông cha cho con cháu về sau biết mà tự hào, tự cường. Vì vậy, từ năm 1930 đến
1945, suốt 15 năm, cha tôi đã sưu tập, ghi lại, tiếp xúc và đi đến cả một số nơi xảy ra các sự
kiện lịch sử ấy để quan sát để thông cảm với cổ nhân.
Số tài liệu khá phong phú. Nhưng đến năm 1945, gia đình về Bình Ðịnh, tài sản sách vở để lại
nhà ở Nha Trang, bị giặc Pháp chiếm. Mãi đến năm 1954, hòa bình lập lại, trở về Nha Trang thì
chỉ còn một cái nhà trống trơn, tài sản, sách vở, tài liệu đều mất cả!
Từ năm 1955 đến nay, cha tôi làm lại cuộc sưu tập, tiếp xúc, ghi chép… nhưng một số tài liệu
chính thức nay không tìm lại được, nhiều người hiểu rõ sự việc (truyền lại trong gia đình) đã
chết hoặc đi biệt tích… Tuy nhiên số tài liệu mới thu thập trong thời gian này cũng khá phong
phú. Lại một lần nữa bị mất mát trong cuộc tháo chạy tháng Tư năm 1975. Tài liệu gom góp,
sách vở ghi chép trong 20 năm trường, mười phần không còn được một.
Cha tôi nay đã già yếu - 76 tuổi rồi - tự thấy khó mà sưu tập được nữa, và sợ cũng không đủ
sức ngồi viết lại những điều đã tìm, đã nghe, đã ghi chép suốt 50 năm nay, nên bảo tôi nghiên
cứu các tài liệu còn sót lại theo sự bổ sung, hướng dẫn, giải thích của cha tôi, cố gắng viết kỹ lại
cho con cháu biết được rõ hơn về nhà Tây Sơn.
Tôi ra công viết từ đầu năm 1983 và viết xong vào cuối xuân 1984.
Theo ý kiến của cha tôi, tập này không thể gọi là một cuốn lịch sử, vì tài liệu, một số chưa
được phối kiểm chặt chẽ.
Ðây chỉ là một số tư liệu được chọn lọc, sắp xếp có hệ thống, những điều mà chúng tôi thấy
nên chép, đáng chép. Nghe sao chép vậy, có nhiều sự việc chính xác, cũng có sự việc chỉ cắm
một hoa tiêu để làm dấu cho những người sau tiếp tục khai tầm. Lại có cả những chuyện hoang
đường theo kiểu Hán Cao Tổ chém rắn, kiểu sâu đục lá cây thành Lê Lợi vi vương Nguyễn Trãi vi
thần trong sử sách cổ. Cha tôi bảo cần ghi lại, vì đó chỉ là những biện pháp tuyên truyền cổ
động ngày xưa dựa vào thần quyền, dị đoan, và sự thực là nó cũng có ít nhiều tác dụng.
Các bộ sử trước viết về Tây Sơn thường chỉ chú trọng đến vua Quang Trung. Ðúng. Vì chính
vua Quang Trung mới thật là người có công với dân tộc. Nhưng xét kỹ nếu không có vua Thái
Ðức đổ nền đắp móng, thì chắc gì một mình vua Quang Trung đã có thể hoàn thành ngôi nhà
Tây Sơn? Các sách cũng ít nói đến các tướng võ các quan văn đã giúp nhà Tây Sơn xây dựng sự
nghiệp. Trong tập tư liệu này, chúng tôi mong lấp được phần nào những chỗ khuyết ấy.
Chúng tôi lại đưa ra một đôi chi tiết làm sáng tỏ nghĩa chữ Trung mà phần đông người Bình
Ðịnh đã theo từ xưa đến nay: Không phải trung với vua, mà trung với Tổ quốc, với Dân tộc,
không phải trung với một người hay một nhà, mà trung với nghĩa vụ tận ngã nghĩa vụ, tức là
TẬN KỶ theo đạo đức cổ truyền. Và thái độ không tranh quyền vị của các quan văn võ thời Thái
Ðức, Quang Trung, thái độ không noi gương phần đông di thần của vua Chiêu Thống khi nhà Lê
mất, của các danh tướng danh thần của Tây Sơn còn sống sót sau khi vua Cảnh Thịnh bị Gia
Long giết, chứng tỏ rằng phần đông người Bình Ðịnh không bị cái học Trung Quân của Hán
Nho nhồi sọ.
Ðó là mục đích viết tập Nhà Tây Sơn này.
Viết xong, vâng lời cha tôi, tôi trình lên cho hai bác là bác Lộc Ðình, bác Giản Chi, cùng hai
chú là chú Nguyễn Ðồng, chú Quách Tạo nhã chính. Hai bác đã chỉ cho những chỗ sai lầm, hai
chú đã thêm cho những điều thiếu sót, và ban cho những lời khuyến lệ. Tôi hết sức vui mừng.
Ðể cho Nhà Tây Sơn được hoàn hảo, cúi mong thêm sự chỉ giáo của các bậc cao minh.
QUÁCH GIAO
ẤP TÂY SƠN.
Ấp Tây Sơn là nơi phát tích của Bình Ðịnh tam hùng: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ.
Ấp gồm phần đất An Khê và phần đất Bình Khê, tỉnh Bình Ðịnh.
Và chia làm ba phần: Tây Sơn Thượng là vùng An Khê.
Tây Sơn Trung từ chân đèo An Khê đến Hữu Giang, Tả Giang.
Tây Sơn Hạ từ Trinh Tường, Phú Lạc đến Thọ Lộc, Lai Nghi, Thú Thiện, An Chánh, Vân
Tường, Kỳ Sơn, Thuận Truyền, Thuận Hạnh...
Cụm tháp Bình Nghi (Thú Thiện) ở phía nam sông Côn và cụm tháp Dương Long ở phía bắc
sông Côn là hai trụ ranh giới phía đông của ấp.
Phía đông là đồng bằng phì nhiêu.
Phía tây và phía nam, núi non hiểm trở, điệp điệp trùng trùng.
Phía bắc, nửa trên là núi dính liền với dãy núi phía tây, nửa dưới là đồng bằng dính liền với
đồng bằng phía đông.
Dòng sông Côn phát nguyên trên dãy Trường Sơn chạy xuống biển Thị Nại, chia ấp Tây Sơn
ra làm hai, nửa phía nam nửa phía bắc, chạy dọc theo dòng sông, tứ mùa lúa dâu bắp đỗ thay
nhau làm tăng vẻ giàu sang cho núi non hùng hiểm.
Núi có nhiều ngọn cao lớn, trông đồ sộ hiên ngang; được nhiều người chú ý là những ngọn có
di tích lịch sử, như:
Ở vùng An Khê có núi Hiển Hách, tục gọi là Hảnh Hót, sử chép là Hinh Hốt. Ðó là một danh
sơn có nhiều cây quý và chung quanh có nhiều ngọn núi quy triều. Núi vùng An Khê liên tiếp
với vùng cao nguyên ở phía tây và phía đông đèo An Khê nối liền Tây Sơn Thượng với Tây Sơn
Trung.
Ðèo An Khê, xưa gọi là đèo Vĩnh Viễn, cao 740 thước và dài trên 10 cây số, chạy từ tây xuống
đông đường đi rất hiểm trở. Trước kia, lúc Quốc lộ 19 chưa mở, hành khách qua lại phải chịu
nhiều gay go. Dọc đèo có nhiều nơi dốc ngược, đá mọc lởm chởm, có khúc phải dãng hai chân
mà leo mới khỏi té. Nơi này tục gọi là dốc Chàng Hảng. Dưới dốc Chàng Hảng về phía đông có
một cái nghẹo, nơi nghẹo có một cây khế rất sai quả. Khách qua đèo thường dừng chân nơi gốc
khế để nghỉ ngơi và giải khát. Nghẹo ấy gọi là nghẹo Cây Khế. Cách nghẹo Cây Khế chừng vài
trăm bước có hai cây cổ thụ, thân cao tàn cả. Một cây ké, một cây cầy. Ðó cũng là hai trạm nghỉ
chân của hành khách.
Dưới chân đèo, thuộc Tây Sơn Trung, núi cũng cao chớm chở như vùng Tây Sơn Thượng.
Ngọn núi có danh nhất là hòn Ông Bình. Núi tuy không cao lắm chỉ có 793 thước, song trông rất
kỳ vĩ và có vẻ bí hiểm. Cây cối sầm uất, ngó mịt mờ thăm thẳm như không có đường lưu thông.
Nhưng kỳ thật thì có nhiều nẻo vào ra, thông thương với các ngọn núi chung quanh cùng các
con đường hẻo lánh trong vùng. Ðối trĩ(1) cùng hòn Ông Bình, có hòn Ông Nhạc, khí thế cũng
rất hùng hiểm.
Từ hòn Ông Nhạc núi chạy từng lớp, từng lớp, lớp chạy thẳng vào Nam, lớp chạy xiên xiên
xuống hướng đông - nam. Danh sơn đều nằm trong dãy Ðông Nam. Trước hết là hòn Tâm Phúc
hình như chiếc nón lá, nhiều cổ thụ và heo rừng.
Ðồn rằng núi rất linh thiêng vì bà Thiên Y A Na thường tới lui hào quang sáng chói. Trong
núi, hễ lúc mặt trời gần lặn, người ta thường nghe tiếng ụt heo inh ỏi. Người địa phương bảo
đó là tiếng của bộ hạ của bà Thiên Y. Núi Tâm Phúc có tên nữa là núi Bà Phù.
Ðối trĩ cùng núi Bà Phù có núi Màn Lăng. Thầy địa lý gọi Màn Lăng là hòn Nhật, hòn Bà Phù là
hòn Nguyệt.
Giữa Màn Lăng và Bà Phù có một thung lũng bằng phẳng và kín đáo, tục gọi là Hóc Yến.
Qua khỏi Hóc Yến đến núi Ðồng Phong tục gọi là hòn Lãnh Lương.
Ði xuống nữa, đến địa đầu Tây Sơn Hạ, thôn Trinh Tường, đến dãy Hoành Sơn tục gọi là núi
Ngang.
Những ngọn núi từ hòn Ông Nhạc chạy xuống đều chạy theo hàng dọc. Hòn Hoành Sơn lại
chạy ngang.
Hoành Sơn chỉ cao 364 thước, nhưng dài và rộng. Phía tây và phía nam, dòng suối Ðộng Tre
và chi lưu ôm sát bên chân. Sông Côn chạy dài ở phía bắc. Trước mặt đồng Trinh Tường tiếp
đồng Phú Phong, mênh mông bát ngát.
Hoành Sơn là đại địa, vì có nào bút, nào nghiên, nào ấn, nào kiếm, nào chung, nào cổ, ở bên tả
bên hữu. Và trước mặt, trên ba nổng gò đất, đá mọc giăng hàng giống như những toán lính
đứng hầu, xa xa có long bàn hổ phục.
Bút là hòn Trưng Sơn ở thôn Phú Lạc bên kia sông Côn, xa trông như ngòi bút chép mây.
Nghiên là hòn núi Hợi Sơn tục gọi hòn Dũng, trong địa phận Trinh Tường về phía nam, đứng
đối trĩ cùng hòn Trưng Sơn ở phía bắc. Trên đầu núi có một vũng nước vừa rộng vừa sâu,
quanh năm không bao giờ cạn. Dân hàn mặc(2) coi vũng nước là nghiên mực của trời nên gọi
hòn Dũng là Nghiên Sơn tức hòn Nghiên.
Hòn Nghiên và hòn Bút nằm bên tả bên hữu hòn núi Ngang, trông rất cân đối. Ðứng xa mà
ngắm thì hòn núi Ngang là bức bình phong còn hòn Nghiên hòn Bút là hai trụ ba biểu(3).
- Sát bên chân và trước mặt núi Ngang, có hai hòn núi nhỏ là hòn Một và hòn Giải. Hòn Một
giống hình cái chuông, nên cổ nhân gọi là Chung Sơn. Hòn Giải giống như cái trống chầu nên có
tên gọi là Cổ Sơn. Nhìn chung, thật giống chuông và mõ đặt trước án thờ.
- Hòn Giải, đứng phía bắc trông vào thì giống cái trống, nhưng đứng phía đông mà nhìn lại
phảng phất một quả ấn. Vì vậy hòn Giải còn có tên nữa là Ấn Sơn.
Ðặt cho hòn Giải tên Ấn chẳng phải chỉ vì hình dáng, mà còn vì phía đông cách Hoành Sơn
không xa có hòn núi thấp mà dài mệnh danh là Kiếm Sơn tức hòn Kiếm. Ðã có kiếm thì phải có
Ấn mới đủ đôi.
- Phía trên hòn Kiếm cũng trong phần đất Trinh Tường có hòn ông Ðốc, hình thù giống như
một con hổ phục, đầu ngó lên Hoành Sơn, đó là “Hổ cứ” như trên đã nói.
- Còn dòng sông Côn đến cuối Trinh Tường, đầu Phú Phong thì nhận nước con sông Ðá Hàng,
một chi lưu từ Ðồng Le ở phía nam chảy ra. Hai ngả sông này tạo thế “long bàn” ôm choàng lấy
cuộc đất núi Ngang.
Từ núi Ngang (Hoành Sơn) trở vô, càng vô trong, núi càng cao. Nhiều ngọn cao trên dưới
nghìn thước, trừ các thợ rừng tuổi tác, người đồng bằng ít ai biết tên. Người ta gọi chung cả
dãy là Núi Xanh vì đứng ngoài nhìn vào sắc núi xanh như nhuộm.
Từ núi Ngang trở xuống Tây Sơn Hạ, càng xuống, núi càng chạy xiên vào nam, nhượng chỗ
cho đồng bằng.
Ðó là núi non nằm phía nam sông Côn.
Phía bắc sông Côn, núi vùng Tây Sơn Trung cũng có nhiều ngọn cao lớn. Như hòn Ngăn, hòn
Bong Bóng ở Vĩnh Thạnh, trông có vẻ ngang ngược như muốn ngăn lối chặn đường thiên hạ đi
rừng. Bốn mặt lại có suối khe bao bọc. Thế rất hiểm. Phía đông hòn Ngăn, cách một dòng suối,
có hai ngọn núi cao ngất, đứng song song như hai răng nanh. Ðó là hòn Vỏ Cá và hòn Da Két.
Núi càng đi xuống đông thì càng thấp dần.
Sau hòn Vỏ Cá, hòn Da Két, còn hòn Bạc Má và hòn Nước Ðỏ. Hai hòn này có thể coi là một,
nếu không có đèo Bồ Bồ chạy ở giữa. Ðèo mở đường giao thông cho khách ở phía đông lên phía
tây, ở phía tây xuống phía đông. Núi đèo đều có hình thù và sắc thái đặc biệt, không thể tả nổi.
Xuống đến Tây Sơn Hạ thì núi không còn liền dây. Hòn Trưng Sơn ở Phú Lạc là hòn núi cao
nhất vùng.
Hòn Trưng chỉ cao 422 thước, nhưng trông rất khôi hùng. Trông gần thì mập mạp hung hăng
như con bò đực sung sức lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu. Nên người địa phương gọi là hòn
Sung. Ở xa thì giống như ngọn bút, cùng với hòn Nghiên bên kia sông Côn làm bạn văn chương
như trên kia đã nói. Lưng núi thì nổi từng vồng u như bị đánh sưng, nên nhiều người gọi là hòn
Sưng thay Sung. Theo các phụ lão địa phương thì núi có tất cả chín cục u, gọi là “Cửu diệu tinh”.
Hai u lớn nhất, một trông giống răng bò nghé, gọi là Ðộc Xỉ, một giống u bò nghé, gọi là Độc
Nhũ. Trong các sách địa phương chí xưa, nhiều sách lấy tên hai cục này để gọi hòn Trưng Sơn:
Ðộc Xỉ Sơn, Ðộc Nhũ Sơn.
Trưng Sơn là Tổ sơn trong vùng núi ở bắc ngạn sông Côn. Mặt hướng về đông nam và lấy dãy
Sơn Triều Sơn ở Cầu Gành thuộc An Nhơn, làm tiền án. Còn sơn mạch thì lại chạy thẳng xuống
hướng đông, đến hòn Mạ Thiên Sơn, tục gọi là hòn Mò O - ở giữa An Nhơn và Phù Cát - thì hồi
cố. Phía trước mặt và hai bên tả hữu, gò đống nổi đầy, cuồn cuộn nhấp nhô như sóng biển. Và
những ngọn núi ở xung quanh đều xây mặt về triều, cũng như các vị đại thần đứng chầu một
đấng anh quân. Còn những gò đống kia là những quân lính dàn hầu.
Từ hòn Trưng Sơn trở xuống là đồng bằng, nếu không có con sông Côn, thì cánh đồng này
liền với cánh đồng phía nam.
Giữa cánh đồng, rải rác nổi lên những hòn núi đất, như hòn Hương Sơn, hòn Trà Sơn, hòn
Khánh Long, hòn Chà Rang.
Hòn Hương Sơn giống như con chó nằm ngủ.
Hòn Trà Sơn và hòn Khánh Long thì giống như hai con cừu.
Ba hòn núi này là ba hòn núi trọc. Hòn Chà Rang không có hình dáng đặc biệt như ba hòn núi
kia, nhưng có nhiều cây chà là, đến mùa trái chín thì người ta rủ nhau lên hái rất đông đảo, cho
nên có tiếng.
Núi non vùng đất Tây Sơn đại khái là thế.
Nói tóm lại về hình thế và vùng đất Tây Sơn như sau:
Tây Sơn Thượng gồm trọn vùng An Khê, núi non trùng điệp, đất bằng ít.
Tây Sơn Trung gồm phần đất từ chân đèo An Khê chạy xuống đến cuối Bình
Giang. Hòn Núi Ngang làm mốc ranh giới cho hai vùng Trung, Hạ. Vùng Trung
cũng như vùng Thượng, núi nhiều hơn đồng.
Tây Sơn Hạ bắt đầu từ Trinh Tường trở vô, Phú Lạc trở ra và chạy xuống đến Thú
Thiện. Thọ Lộc trở vô, An Chánh, Vân Tường trở ra. Ðồng bằng chiếm gần trọn
vùng.
Dòng sông Côn làm sợi tim đèn cho hai vùng Trung Hạ.
Núi non thì hùng hiểm. Ðồng ruộng thì phì nhiêu. Rõ có thể dụng binh. Cho nên cuộc khởi
nghĩa của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ trước kia và cuộc khởi nghĩa của
Mai Xuân Thưởng thời Pháp sang Việt Nam, đều phát xuất tại vùng Tây Sơn(4).
NHÀ TÂY SƠN.
Ấp Tây Sơn là nơi phát tích của ba anh em nhà anh hùng dân tộc Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ,
Nguyễn Lữ, cho nên sử gọi ba anh em là Nhà Tây Sơn.
Tổ tiên nhà Tây Sơn vốn họ Hồ, ở làng Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Tổ
quán ở dưới chân hòn Thái Sơn, một hòn núi nhỏ đứng bên cạnh hòn Ðại Hải, một danh sơn
tỉnh Nghệ.
Họ Hồ vào lập nghiệp ở Quy Nhơn(5), tức Bình Ðịnh thời Thịnh Ðức nhà Lê (1653-1657), ứng
với đời Lê Thần Tông (1649-1662) ở Ðàng Ngoài, đời Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) ở Ðàng
Trong. Bắt đầu từ đời ông cố, đến Nguyễn Huệ là đời thứ bốn.
Ông cố tên là Hồ Phi Long, vào ở giúp việc nông trang cho nhà họ Ðinh thôn Bằng Châu,
huyện Tuy Viễn (tức An Nhơn). Thấy họ Hồ là người trung hậu cần mẫn, họ Ðinh cưới vợ cho
(có thuyết bảo là gả con gái) và nuôi cả vợ chồng, coi như người thân quyến.
Họ Hồ sinh được một trai, đặt tên là Hồ Phi Tiễn. Lớn lên Hồ Phi Tiễn tỏ ra khôn ngoan lanh
lợi, song sức yếu không thể làm nông. Họ Ðinh bèn giúp vốn để đi buôn.
Thời bấy giờ trầu nguồn rất có giá, song người đồng ruộng ít người chịu khó vượt suối đèo
để đi kiếm lợi. Hồ lang bèn mang tiền lên ấp Tây Sơn buôn trầu. Ði buôn gặp người vừa ý mới
kết nghĩa vợ chồng, và để tiện việc làm ăn Hồ lang cất nhà nơi quê vợ.
Bà vợ tên là Nguyễn Thị Ðồng ở thôn Phú Lạc thuộc Tây Sơn Hạ. Bà Ðồng là con duy nhất của
một phú thương (buôn trầu) đất Phú Lạc. Ðể con mình hưởng trọn gia tài và đời đời giữ hương
hỏa bên ngoại, bà Ðồng thương lượng cùng chồng cho con mang họ Nguyễn. Việc đổi họ đối
với ông Hồ Phi Tiễn không có gì trở ngại vì chẳng những hợp tình mà cũng hợp lý do việc tiền
nhân là Hồ Quý Ly đã từng mang họ Lê là họ của cha nuôi từ nhỏ cho đến khi lên ngôi thay nhà
Trần trị thiên hạ. Vì vậy con ông Hồ Phi Tiễn mang họ Nguyễn từ lúc sơ sanh: Nguyễn Phi Phúc.
Lớn lên ông Phúc cũng chuyên nghề buôn trầu và lập trường buôn trầu tại chợ Kiên Mỹ gần
sông Côn(6). Trầu trên nguồn chở xuống, người ở miền dưới lên mua trầu đều đi đường thủy,
theo dòng sông Côn. Chợ Kiên Mỹ mỗi tháng có sáu phiên, phiên nào cũng đông người mua
bán. Ðến khi trường trầu của ông Phúc mở, chợ càng ngày càng thịnh vượng thêm. Trên bộ thì
người chen chúc nhau, dưới sông thì thuyền lớp đậu lớp xuống lên chật cả bến. Kiên Mỹ trở
thành một thị trấn và ông Phúc trở thành một phú thương có uy tín nhất trong vùng. Ông kết
duyên cùng bà Mai Thị Hạnh(7). Bà Hạnh là cao cao tổ cô của anh hùng Mai Xuân Thưởng. Vì
vậy nên trong bản án của Mai anh hùng do triều đình Huế buộc tội có câu: Dương vị Hàm Nghi
khởi nghĩa, âm vị ngụy Nhạc phục thù.
Ông Phúc sanh ba người con trai:
Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ tức Nguyễn Bình, Nguyễn Lữ.
Ngoài đời cũng như trong sách sử không nói rõ ba ông sinh năm nào.
Chỉ nghe các cụ phụ lão truyền rằng ông Nhạc lớn hơn ông Huệ đến 10 tuổi, và ông Huệ hơn
ông Lữ 1 tuổi.
Nếu dựa năm băng hà của vua Quang Trung mà tính thì chúng ta cũng có thể đoán được năm
sinh của ba ông.
Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, theo các sử Việt, băng năm Nhâm Tý (1792) hưởng dương 40
tuổi. Như vậy ông Huệ sanh năm Quý Dậu (1753) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 14. Ông Nhạc lớn
hơn 10 tuổi thì sanh năm 1743, tức năm Quý Hợi. Ông Lữ thua ông Huệ 1 tuổi, tức sanh năm
Giáp Tuất (1754).
Ba anh em lớn lên đều thọ giáo ông Trương Văn Hiến tục gọi là Giáo Hiến ở An Thái (An
Nhơn).
Trương Văn Hiến, người Hoan Châu (Hà Tĩnh) anh em thúc bá cùng Trương Văn Hạnh.
Trương Văn Hạnh là một đại thần đời Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát. Vũ Vương mất năm Ất
Dậu (1765), thế tử cũng đã mất từ lâu, con thế tử còn nhỏ, nên tờ di chiếu để lại lập con thứ nhì
của Vũ Vương, tức Nguyễn Phúc Luân (cha Nguyễn Phúc Ánh) lên nối ngôi, Quốc phó Trương
Phúc Loan muốn chuyên quyền, thông đồng với tên hoạn quan Chừ Ðức và Chưởng cơ Nguyễn
Cửu Thống mạo tờ di chiếu giả, lập người con thứ 16 của Vũ Vương là Nguyễn Phúc Thuần, lúc
ấy mới 12 tuổi, lên làm Chúa. Trương Văn Hạnh phản đối, bị Trương Phúc Loan giết chết.
Trương Văn Hiến sợ vạ lây bèn trốn vào An Thái mở trường dạy học.
Ông Trương Văn Hiến dạy cả văn lẫn võ. Người đến xin học văn thì bắt buộc phải học thêm
võ. Những người đến xin học võ thì bắt buộc phải học thêm văn. Bởi có văn không võ thì
thường nhu nhược. Có võ không văn thì thường hay cường bạo. Văn võ phải nương nhau thì
đạo làm người mới giữ được vững.
Cũng như mọi người, ba anh em họ Nguyễn Tây Sơn đều học cả văn lẫn võ, nhưng nặng bên
võ hơn bên văn. Ông Nhạc chuyên học kiếm, ông Huệ chuyên học đao, ông Lữ chỉ học quyền, và
vì sức yếu nên được truyền môn Miên quyền (quyền mềm dẻo như bông, đối lập với Ngạnh
quyền là quyền cứng mạnh), là môn sở trường của Trương công.
Ông Phúc qua đời, ông Nhạc nối nghiệp nhà. Ông Lữ xuất gia theo Minh giáo tục gọi là đạo
Ma Ní, dùng phù phép để chữa bệnh, trừ tà như đạo phù thủy. Ðạo này thịnh hành ở Tây Sơn
Thượng và các miền cao nguyên Trung phần. Chỉ có ông Huệ tiếp tục theo học thầy giáo Hiến.
Ðể tiện việc buôn bán, ông Nhạc dời nhà xuống Kiên Mỹ cạnh trường trầu. Nhà rộng để chứa
bạn hàng. Trước nhà lại mở sân rộng để luyện võ nghệ.
Nhà giàu, võ giỏi, ông Nhạc lại nổi tiếng phong nhã hào hoa nên những tay “anh chị”, những
kẻ khá giả ở các vùng lân cận đều rất thích giao du. Uy thế của ông Nhạc ở địa phương còn hơn
ông Phúc gấp bội. Ðể tỏ lòng kính mến, người đương thời gọi ông Nhạc là ông Hai Trầu. Ông
Huệ là chú Ba Bình hay Ba Thơm. Ông Lữ là thầy Tư Lữ.
Vì ông Nhạc kết duyên với bà Trần Thị Huệ nên để tránh trùng tên với chị dâu, gia đình mới
gọi ông Huệ là Bình. Do đó người địa phương mới gọi thân mật là chú Ba Bình. Tên Bình là tên
gọi ông Huệ lúc còn nhỏ. Còn tên Thơm là do nhân hoa huệ có hương thơm nên gọi thay cho
tên kiêng cữ.
Nhà ông Nhạc từ khi dời xuống Kiên Mỹ, khách khứa mỗi ngày mỗi đông. Chẳng những khách
người Việt mà cả khách người Hoa.
Có một người Hoa tới ở nhà ông Nhạc hàng tháng và ngày ngày cứ đi thơ thẩn nơi các vùng
núi đồi Tây Sơn Hạ. Thường được người Hoa đó lui tới nhất là hòn núi Thơm ở Kiên Thạnh và
dãy núi Ngang ở Trinh Tường. Ông Nhạc đoán biết là thầy địa đi tìm huyệt mả, mới cho người
tâm phúc theo rình. Một hôm thầy địa đến núi Ngang, lấy hai cây trúc để nguyên cành lá đem
cắm nơi triền phía đông, một cây bên nam một cây bên bắc cách nhau chừng vài chục thước,
rồi bỏ đi thẳng. Ông Nhạc ngày ngày đến xem chừng. Mấy hôm sau, cây trúc phía bắc rụng hết
lá và khô dần. Còn cây phía nam, đến ba tháng rồi mà vẫn tươi xanh như lúc mới trồng. Biết đó
là ứng chứng cho biết rằng long mạch nằm nơi cây trúc phía nam, ông Nhạc mừng lắm, bèn nhổ
cây sống trồng vào ngay chỗ cây chết, và cây chết trồng vào chỗ cây sống. Sau ba tháng mười
ngày kể từ ngày trồng hai cây trúc, thầy địa Tàu trở lại. Thấy hai cây trúc đều khô héo hết, thầy
địa cho là giả cuộc, bỏ đi không thèm trở lại nữa. Ông Nhạc bèn bốc mộ ông thân đem táng nơi
chân trúc phía nam.
Lại có thuyết: Ði lang thang trên vùng núi đồi Tây Sơn Hạ ít lâu, thầy địa Tàu bỏ đi mất. Một
năm sau mới trở lại. Lần này thầy mang một chiếc địa bàn và một chiếc tráp nhỏ. Ông Nhạc
đoán biết rằng thầy Tàu đã tìm được huyệt mả đại phát ở vùng Tây Sơn, và chiếc tráp kia đựng
hài cốt tiền nhân của thầy địa, bèn tìm cách đánh đổi. Ông đóng một chiếc tráp in hệt chiếc
tráp của thầy địa và hốt cốt ông thân sinh đựng vào, rồi đợi... Coi được ngày lành, thầy địa
mang địa bàn và tráp đi đến nơi huyệt mả ở núi Ngang. Thầy vừa đến chân núi thì một con cọp
to lớn ở trong bụi gầm một tiếng, nhảy ra vồ. Thầy địa hết hồn, quăng tráp và địa bàn mà chạy.
Hồi lâu thấy cọp không đuổi theo liền quay lại chỗ cũ. Thấy chiếc tráp và địa bàn còn nằm lăn
lóc đó, thầy mừng như chết đi sống lại, vội đi thẳng đến nơi long huyệt mà chỉ một mình thầy
biết. Chôn cất xong, thầy hớn hở quay về Trung Hoa, tuyệt nhiên không ngờ rằng chiếc tráp
thầy chôn đựng di cốt ông Nguyễn Phi Phúc chớ không phải di cốt của tổ tiên thầy và con cọp
kia là con cọp giả do ông Nhạc đẻ ra.
Từ ngày ông Nhạc được huyệt mả, thì gia đình thường gặp nhiều việc may.
Một hôm ông Nhạc mua được một thanh cổ kiếm dài và rất bén. Nhớ ơn thầy cũ, bèn xuống
An Thái dâng cho Trương công.
Trông thấy Nhạc, Trương công giật mình. Vì trước kia, phong cách và tài năng của Nhạc đã
làm cho công thầm khen là người có thể làm được việc lớn. Lúc này thần thái lại tươi sáng hơn
xưa thập phần. Nâng niu xem xét thanh kiếm, công nói:
- Ðây là một thanh bảo kiếm, có đại phước mới vào tay. Tôi giữ hộ cho anh, ngày sau sẽ giao
lại.
Ðoạn bảo Nhạc:
- Lúc này là lúc kẻ anh hùng có thể dựng nên nghiệp cả. Anh không nên để lỡ thời cơ.
Ý quật cường vốn đã nhen nhúm trong người, nhưng Nhạc từ tốn thưa:
- Con tự xét không đủ tài sức.
Công ôn tồn nói:
- Hán Cao Tổ, Lê Thái Tổ đâu có phải từ trên trời sa xuống. Người có chí hễ nắm được thiên
thời, địa lợi, nhân hòa thì đại sự thành công không mấy khó khăn. Hiện giờ Trương Phúc Loan
chuyên quyền làm những việc gian ác, triều đình đảo điên, nhân tâm ly tán. Nếu có người phất
cờ khởi nghĩa thì bốn phương thiên hạ đều hưởng ứng ngay. Ðất Tây Sơn núi non hiểm trở có
cái thế bách nhị(8) tới lui không sức ngoài nào có thể ngăn cản. Anh chỉ có phải lo việc tài
chánh và quân sự nữa là có thể hưng binh.
Rồi gọi ông Huệ ra, bảo:
- Con nay đã lớn khôn, tài nghệ cũng đã vững. Con hãy về nhà giúp anh.
Công lại tặng cho hai anh em hai bộ binh pháp, một của Tôn Ngô, một của Trần Hưng Ðạo.
Hai anh em bái biệt sư phụ về lo việc xây dựng sự nghiệp anh hùng.
Ông Huệ về nhà kết duyên cùng bà Phạm Thị Liên người thôn Phú Phong huyện Tuy Viễn.
Ông Nhạc giao việc buôn trầu cho vợ. Bà Nhạc họ Trần quê ở thôn Trường Ðịnh cách Kiên Mỹ
hai thôn là Thuận Nghĩa và Dõng Hòa, về phía đông. Bà là người hiền đức, làm việc siêng năng,
ăn tiêu kiệm ước, nhưng đối đãi với làng xóm, khách khứa và bạn hàng lại rất rộng rãi dịu dàng.
Vì vậy từ khi quyền điều khiển trường buôn trầu vào tay bà, thì lợi hàng ngày có tăng chớ
không có giảm. Ông Nhạc được rảnh tay để lo việc nước việc dân(9).
Cho rằng mối lợi về việc buôn trầu không thấm vào đâu đối với đại sự, một mặt ông lo tổ
chức việc đánh bạc, mặt khác tổ chức việc khẩn hoang. Và nghĩ rằng một cây làm chẳng nên
non, ông bèn sai ông Huệ đi liên lạc cùng những người có tiếng về văn về võ ở khắp ba huyện
Tuy Viễn, Phù Ly, Bồng Sơn.
Hợp tác cùng anh em ông Nhạc sớm nhất là:
- Nguyễn Thung một phú nông ở Thuận Nghĩa là một thôn trù phú ở sát Kiên Mỹ về phía
đông.
- Võ Văn Dũng, Võ Ðình Tú ở thôn Phú Phong, ở phía nam ngạn sông Côn, nằm song song với
Kiên Mỹ.
- Bùi Thị Xuân, người thôn Xuân Hòa ở dưới Phú Phong, và chồng là Trần Quang Diệu, người
Ân Tín huyện Hoài Ân.
Ðó là những tay võ giỏi. Còn bên văn thì có:
- Võ Xuân Hoài, ở Phú Phong, đồng tông nhưng khác chi với ông Dũng, ông Tú.
- Trương Mỹ Ngọc ở An Nhơn.
Mọi người đều được phân công rành mạch. Người thì lo việc kinh tế tài chánh, người thì lo
việc nhân sự, người thì lo việc quân sự.
Sòng bạc mỗi ngày mỗi mở rộng. Trong số con bạc có nhiều tay dũng sĩ có đại chí. Sòng bạc
trở thành nơi vừa làm lợi vừa chọn nhân tài.
Ông Nhạc cho khẩn hoang nhiều diện tích rộng lớn tại An Khê, tại Thượng Giang (Tây Sơn
Trung), Ðồng Hưu, Ðồng Vụ (Phú Phong, Trinh Tường), Ðồng Quang (Thuận Ninh)… Những
đồng bào mộ đi khai k...
 





