BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    IMG_20210226_092255.jpg IMG_20210226_092242.jpg 15230796_1709875675996119_1329632988585197351_n.jpg

    Dạy bé các phương tiện giao thông | Vạn điều hay cho bé

    bi-an-cua-nhan-loai

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 08h:22' 05-03-2024
    Dung lượng: 2.4 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
    hế giới chúng ta đang sống quả thực vô cùng rộng lớn và
    hàng ngày vẫn luôn xảy ra các sự kiện, hiện tượng mà chúng
    ta chưa thể giải thích được bằng những hiểu biết hiện có. Trải
    qua bao nhiêu thế kỷ với khả năng hiểu biết ngày càng mở
    rộng, con người đã phần nào hiểu được thế giới tự nhiên xung
    quanh mình. Nhưng tỉ lệ thuận với nó, những điều kỳ lạ không ít
    hơn mà ngày càng nhiều, càng thách thức trí tuệ và kiến thức của
    nhân loại.

    T

    Với mong muốn cung cấp cho bạn đọc những thông tin về các sự
    kiện, hiện tượng kỳ bí đang diễn ra xung quanh cuộc sống của con
    người, được giải thích trên cơ sở khoa học, Nhà xuất bản Từ Điển
    Bách Khoa xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc cuốn "Bí ẩn của
    nhân loại". Hy vọng cuốn sách sẽ là nguồn tài liệu bổ ích, hấp dẫn
    đối với những bạn đọc.
    NXB TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA

    PHẦN 1:
    CON NGƯỜI – THẾ GIỚI KỲ BÍ NHẤT
    TRONG VŨ TRỤ
    1. NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ CƠ THỂ CON
    NGƯỜI
    ơ thể con người là một trong những bộ máy kỳ diệu nhất.
    Chúng ta biết rằng quả tim của mỗi người phải làm việc suốt
    70-80 năm trời không một giây phút ngừng nghỉ, thì mới
    thấy hết được sự kỳ diệu đó. Dù là chủ sở hữu, nhưng không
    mấy ai trong chúng ta hiểu hết những gì đang xảy ra trong cơ thể
    mình.

    C

    - Trong suốt một đời người, quả tim đập 3 tỷ lần và bơm 48 triệu
    gallon máu.
    - Mỗi ngày, máu thực hiện một cuộc hành trình dài 95.540km
    trong cơ thể chúng ta.
    - Bộ não trung bình của một người có 100 tỷ tế bào thần kinh.
    - Các xung động thần kinh truyền đến não và từ não truyền đi với
    vận tốc 274 km/giờ.
    - Không bao giờ bạn có thể hắt hơi mà không phải nhắm mắt.
    - Khi bạn hắt hơi, mọi chức năng của cơ thể đều ngưng hoạt động
    kể cả trái tim.
    - Dạ dày của bạn cần phải tạo ra một lớp màng nhầy mới cứ sau
    hai tuần lễ, nếu không, nó sẽ tự "tiêu hoá" nó.
    - Cần có sự tương tác của 72 cơ bắp khác nhau để tạo thành tiếng
    nói của chúng ta.

    - Tuổi thọ trung bình của mỗi chiếc gai lưỡi là 10 ngày.
    - Tiếng ho văng ra khỏi miệng chúng ta với vận tốc 96 km/giờ.
    - Đứa trẻ sinh ra không có xương bánh chè. Phải chờ khi chúng
    được từ 2 đến 6 tuần tuổi thì bộ phận này mới xuất hiện.
    - Chúng ta sinh ra với 300 khúc xương, khi trưởng thành, chỉ còn
    206 khúc xương.
    - Đứa trẻ lớn nhanh hơn vào mùa xuân so với các mùa khác.
    - Trong suốt một đời người, phụ nữ chớp mắt nhiều gần gấp 2 lần
    đàn ông.
    - Một người nháy mắt trung bình 6.205.000 lần mỗi năm.
    - Người còn một mắt chỉ bị mất khoảng 1,5 thị lực, nhưng mất
    toàn bộ cảm giác về chiều sâu.
    - Từ lúc sinh ra cho đến khi trưởng thành, mắt của chúng ta vẫn
    không thay đổi, trong khi đó, tai và mũi không ngừng phát triển cho
    đến lúc cuối đời.
    - Trung bình một đời người, chúng ta đi bộ trên một quãng
    đường dài bằng 5 lần đường xích đạo.
    - Da đầu mỗi người trung bình chứa 100.000 sợi tóc.
    - Hộp sọ con người được cấu tạo bởi 29 mảnh xương khác nhau.
    - Tốc độ mọc dài ra của móng tay tương ứng với chiều dài ngón
    tay. Móng tay của ngón giữa mọc nhanh nhất. Móng tay mọc nhanh
    gấp đôi móng chân.
    - Tóc và móng tay có cùng một chất liệu cấu tạo như nhau.
    - Khi con người chết đi, cơ thể khô lại, tạo ảo giác là móng tay và
    tóc còn tiếp tục mọc thêm sau khi chết.
    - Diện tích bề mặt ruột là 200 m2.

    - Diện tích bề mặt da người là 2 m2.
    - Một người trung bình bị thay đi hơn 18 kg da trong một đời
    người.
    - Cứ mỗi giây đi qua, có 15 triệu tế bào máu bị tiêu huỷ trong cơ
    thể.
    - Mỗi năm qua đi, có khoảng 98% nguyên tử trong cơ thể bị thay
    thế.
    - Quả tim con người tạo ra một áp suất đủ để đẩy máu đi xa 9 m.
    - Xương đùi của con người cứng hơn bê tông.
    - Dưới lớp da mỗi người có 72 km dây thần kinh.
    - Mỗi 2,5 cm2 da người chứa 6 m mạch máu.
    - Cứ 24 giờ, một người trung bình thở 23.040 lần.

    2. BÍ MẬT CỦA HIỆN TƯỢNG SIÊU TRÍ NHỚ
    Năm 20 tuổi, cô gái Elina Markand (người Đức) bị tai nạn. Khi
    tỉnh dậy, Elina bỗng nói tiếng Italy rất thông thạo, mặc dù trước đó
    cô chưa từng học một ngoại ngữ nào. Cô còn tự nhận mình là
    Rozetta Caste Liani, công dân Italy và được yêu cầu được trở về
    thăm quê hương.
    Về tới “ nhà", Elina mới biết
    rằng người có tên là Rozetta
    Caste đã mất từ năm 1917. Đón
    cô là một bà già lụ khụ, xưng là
    con gái của Rozetta Caste. Elina
    chỉ tay vào bà già, nói: "Đây là
    Fransa, con gái tôi!". Lúc ấy, tất
    cả mọi người đều giật mình, vì
    “Mysytic” tranh của Liisa Rahkonen người đàn bà quả thực tên là
    Fransa, đúng như Elina gọi.

    Câu chuyện của Elina Markand đã trở thành đề tài đầy hấp dẫn
    cho khoa học. Thực tế, trong lịch sử từng có không ít trường hợp
    tương tự và hiện tượng "nhớ về quá khứ" không nhất thiết phải bắt
    đầu từ một chấn thương nào đó, như trường hợp của Elina Markand.
    Vào thập niên trước, một cô gái nhỏ người Anh đã biến thành
    "một người xa lạ" sau khi thức dậy vào một buổi sáng. Em không
    nhận ra mẹ và người thân của mình, không nói được tiếng mẹ đẻ
    trong khi lại thông thạo tiếng Tây Ban Nha và lúc nào cũng tỏ ra sợ
    sệt.
    Các bác sĩ đều có kết luận giống nhau: Em bé 10 tuổi này không có
    biểu hiện gì về bệnh lý hoặc tâm thần, sức khoẻ tốt. Em nhận mình là
    người Tây Ban Nha và sống ở thành phố Toledo. Em kể lại rằng một
    người cùng phố do ghen ghét và đố kỵ đã đâm chết em năm em 22
    tuổi. Cảnh sát Tây Ban Nha đã thẩm tra lại câu chuyện kỳ quặc về
    "tiền kiếp" của em và kết luận, đúng như lời em kể. Ở số nhà đó trong
    thành phố Toledo từng có một cô gái 22 tuổi bị hãm hại. Những
    người hàng xóm đã tìm thấy xác cô ngay trong nhà. Câu chuyện càng
    sáng tỏ hơn khi hung thủ (lúc này đã già) tự đến gặp cảnh sát để thú
    tội.
    Các nhà khoa học còn tiếp tục ghi nhận nhiều trường hợp khác.
    Chẳng hạn có một người đột nhiên "biến thành” công dân La Mã cổ
    đại, với bằng chứng khó chối cãi là anh ta biết sử dụng thứ ngôn ngữ
    "nguyên thuỷ" của mình, mà không còn ai hiểu được. Tương tự như
    vậy, có người châu Âu bỗng nói tiếng Ai Cập, mất hẳn khả năng nói
    tiếng mẹ đẻ. Rồi anh ta mô tả chính xác cảnh vật ở sông Nile và tự
    nhận có nguồn gốc Ai Cập.
    * "Trí nhớ gene"
    Một số nhà khoa học đã thử đưa ra một lý thuyết giải thích hiện
    tượng trên với khái niệm "trí nhớ gene": Nếu các vùng "ngủ" trong
    ADN bị kích thích, con người có thể trở về tiền kiếp". Họ bỗng nhớ lại
    nguồn gốc La Mã hoặc Ai Cập từ xã xưa. Cũng do ảnh hưởng bởi tiền
    kiếp mà nhiều người có thói quen xoa râu quai nón, mặc dù trên mặt
    không hề có râu. Người khác lại có thói quen nhấc vạt áo vét, y như
    động tác vén váy dài đang mặc khi vượt qua vũng nước của phụ nữ.
    Như ở cô Elina người Đức và bé gái người Anh thì rõ ràng không

    hề có quan hệ nào về "gene di truyền" với người mà mình hoá thân,
    có nghĩa là trường hợp của họ không thể giải thích bằng "trí nhớ
    gene". Vậy nghĩa là thế nào? Những người theo đạo phật rất quen
    thuộc với thuyết luân hồi cho rằng thể xác con người – tức là cái "bề
    ngoài" – luôn thay đổi. Còn cái "bên trong thể xác" – tức linh hồn – là
    vĩnh cửu. Theo thuyết luân hồi, cuộc sống không khởi đầu bằng sự
    sinh ra và cũng không kết thúc bằng sự mất đi. Cuộc sống cứ trôi vô
    tận. Linh hồn ở mỗi "kiếp" lại nhập vào một thân xác mới. Vì thế, sẽ
    không lạ khi cô Elina và bé gái người Anh đột nhiên nhớ lại kiếp
    trước của mình.
    * Thuyết về kết cấu "phách"
    Lại có một số nhà vật lý và sinh học đưa ra cách giải thích vấn đề
    trên bằng "kết cấu phách". "Phách" ở đây tất nhiên không phải là
    "phách" trong âm nhạc, mà là một khái niệm chỉ "phần bất biến" của
    con người, còn được hiểu là "phần năng lượng tách ra dưới dạng
    sóng". Khi người chết, "phách" liền tan vào vũ trụ. Vì thế, "phách" có
    thể hiểu là một loại "trường sóng hạt cơ bản nhẹ, hoặc là "tập hợp
    những năng lượng thông tin cá thể".
    Theo các nhà khoa học này, thuyết về phách có thể lý giải được
    như đa phần hiện tượng thần đồng (trong âm nhạc, thi ca, khoa
    học...). Ở tuổi rất trẻ, những thần đồng này đã tích tụ được lượng
    kiến thức khổng lồ mà người bình thường cả đời dù học tập chăm chỉ
    cũng khó có được. Theo thuyết này, "phách" của các thiên tài là sản
    phẩm của hàng vạn kiếp trong quá khứ dồn lại trong một cơ thể hiện
    hữu. Nói cách khác, "trường sóng hạt cơ bản nhẹ" hay những "tập
    hợp thông tin cá thể" đã tập trung vào cơ thể họ theo một quy luật
    nào đó.
    Nhiều nhà khoa học đã mạnh dạn đề cập tới những khái niệm rất
    mới về hiện tượng "nhớ về quá khứ". Họ đã lập ra một quy trình công
    nghệ" cho phép bằng thực nghiệm đưa con người vào trạng thái giữa
    mơ và thực. Ở trạng thái lơ lửng kỳ ảo này, người tham gia thực
    nghiệm vẫn nhìn thấy những gì quanh mình, nhưng trong tiềm thức,
    họ lại thấy cả quá khứ. Phương pháp thực nghiệm này đã được áp
    dụng để chữa một số bệnh tâm thần và đem lại kết quả.
    Mặc dù đã có những thành tựu nhất định, nhưng đến nay, những
    chuyện về "siêu trí nhớ" gần như vẫn nằm ngoài vòng nghiên cứu của

    khoa học chính thống. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là nhân loại
    chịu bỏ cuộc để rơi tự do vào vòng "bất khả tri", các nhà khoa học vẫn
    đang tìm cách để nghiên cứu những điều khó giải thích nhất.

    3. NGỦ LỊM HÀNG CHỤC NĂM – MỘT HIỆN
    TƯỢNG CHƯA ĐƯỢC GIẢI THÍCH
    Do bị tưởng nhầm là đã chết, cô bé Nazira Rustemova (4 tuổi,
    người Kazakstan) từng bị chôn sống. Được đưa ra khỏi mộ, Nazira
    chìm vào một giấc ngủ dài 16 năm rồi mới đây bỗng nhiên tỉnh giấc.
    Cơ thể của cô (vốn thay đổi rất ít trong thời gian hôn mê) bỗng lớn
    lên từng ngày để nhanh chóng trở thành cơ thể một thiếu nữ trưởng
    thành.
    Đó là một trong những trường hợp mắc chứng hôn thuỵ, cho đến
    nay vẫn là một bí ẩn đối với khoa học. Những người bị chứng hôn
    thuỵ có thể ngủ hàng tháng trời, thậm chí vài chục năm. Trong thời
    gian đó, cơ thể họ hầu như không có sự thay đổi. Sau khi tỉnh giấc,
    quá trình trao đổi chất được tăng tốc khiến cho cơ thể lớn nhanh
    trông thấy, y như trong truyện cổ tích. Ở một số bệnh nhân còn xuất
    hiện nhiều khả năng kỳ lạ mà trước khi hôn mê họ chưa hề có. Nazira
    Rustemova là một trường hợp điển hình.
    Lúc mới sinh, Nazira là một cô bé khoẻ mạnh, cơ thể phát triển
    bình thường như bao đứa trẻ khác. Gần đến sinh nhật lần thứ 4, đột
    nhiên cô bé bị đau đầu dữ dội, không thuốc nào làm giảm được. Sau
    mỗi cơn đau, cô bé lại lịm đi. Một buổi sáng, khi vào đánh thức con,
    cha mẹ của Nazira thấy cô bé nằm bất động trên giường. Các bác sĩ ở
    bệnh viện huyện khẳng định Nazira đã chết mà không rõ nguyên
    nhân.
    Sau khi mai táng cho Nazira, ông và bố cô bé nằm mộng thấy có
    người bảo rằng Nazira chưa chết mã đã bị chôn sống. Người cha trở
    lại nghĩa địa, lật ván áo quan lên để kiểm tra. Ông sửng sốt nhận thấy
    xác con gái đã nằm sát vào một góc chứ không ở vị trí chính giữa như
    lúc hạ huyệt. Lớp vải liệm quấn quanh cô bé bị nhàu và đôi chỗ có vết
    cào xước. Ông vội vàng bế con về nhà.
    Hai tuần liền. Gia đình Nazira tìm mọi cách để đánh thức cô bé
    nhưng vô hiệu. Khi biết tin, Bộ Y tế Liên Xô đã chuyển Nazira lên

    Matxcơva để nghiên cứu. Cô bé được đặt trong lồng kính suốt 16 năm
    cho đến ngày tỉnh lại.
    "Suốt thời gian đó, tôi không hề ngồi dậy lần nào" – Nazira nhớ
    lại – "Mặc dù nằm bất động nhưng tôi vẫn nhận biết được mọi
    chuyện xảy ra xung quanh mình. Thậm chí có lần tôi còn ngửi thấy
    hương thơm thoang thoảng đặc trưng của vùng thảo nguyên quê tôi.
    Một hôm, tôi nghe thấy tiếng chuông điện thoại réo rất lâu. Mãi mà
    không có ai nhấc máy; thế là tôi quyết định đứng dậy để nói chuyện
    điện thoại..." Sau khi tỉnh giấc, Nazira được các bác sĩ giữ lại để tiếp
    tục kiểm tra sức khoẻ trong mấy tháng rồi mới trở về nhà.
    Trong 16 năm ngủ lịm, người Nazira chỉ dài thêm 30 cm mặc dù
    vẫn tiếp nhận thức ăn qua hệ thống ống dẫn nối với dạ dày. Tuy
    nhiên, khi tỉnh lại, cơ thể cô phát triển nhanh như thổi. Chỉ trong một
    thời gian rất ngắn từ một cô bé, Nazira đã có một cơ thể phát triển
    như mọi cô gái 20 tuổi khác.
    Trong mấy ngày đầu, Nazira đã phục hồi khả năng khẩu ngữ, có
    thể giao tiếp với mọi người mà không quên từ nào. Thậm chí, cô còn
    nói được 4 ngoại ngữ, trong đó có tiếng Latinh (một ngôn ngữ hiện
    nay rất ít người biết) và tự nhấc mình khỏi mặt đất nhẹ nhàng như
    bay. Tuy nhiên, sau đó mấy năm, những khả năng này biến mất.
    Nazira quên cả tiếng mẹ đẻ (tiếng Kazakstan), chỉ còn nhớ duy nhất
    tiếng Nga.

    4. HIỆN TƯỢNG "NGƯỜI LƠ LỬNG"
    "Quá trưa, Subbayah Pullivar ra chào chúng tôi và cho biết đã
    thực hành yoga được gần 20 năm.
    Khi nghi lễ lơ lửng bắt đầu,
    nhà yoga Ấn Độ này đi vào một cái
    lều. Vài phút sau, vách lều được
    nâng lên, cho thấy ông đang lơ
    lửng giữa vòng tròn nước". Đó là
    lời kể của P.Y.Plunkett, một người
    bạn tận mắt chứng kiến màn biểu
    Lơ lửng không phải là không thể diễn ngày 6/6/1936.

    Nhiều khán giả đến gần kiểm tra để xem có sự gian dối nào
    không. Subbayah Pullivar như trong trạng thái lên đồng, lơ lửng trên
    không, cách mặt đất khoảng 1 mét. Ông dựa vào một cây gậy, hẳn là
    chỉ để giữ thăng bằng, Plunkett và bạn bè đến kiểm tra xung quanh
    nhà yoga: chẳng có dây hay trò ma mãnh nào cả.
    Sau đó, cái lều được phủ xuống và Pullivar hạ xuống đất. Plunkett
    chứng kiến sự hạ xuống này qua một cái khe trên vách lều mỏng. “Sau
    một phút, nhà yoga có vẻ lắc lư. Ông bắt đầu hạ xuống từ từ, vẫn
    trong tư thế nằm ngang như lúc đầu. Phải mất 5 phút để chạm xuống
    đất. Lúc ấy, các đệ tử đưa ông ra giữa khán giả, yêu cầu mọi người
    thử bẻ tay bẻ chân ông. Nhưng dù có nhiều người, chúng tôi vẫn
    không thể làm được. Subbayay Pullivar được xoa bóp bằng nước lạnh
    hơn 5 phút sau khi rời khỏi trạng thái lơ lửng và lại cử động tay chân
    bình thường”.
    Trong nhiều trường hợp lơ lửng khác, khán giả chú ý đến chuyển
    động lắc lư và tư thế nằm ngang. Cảnh tượng diễn ra tại Thuỵ Sĩ, ở
    trường của nhà yoga Maharishi Mahesh, một học viên môn thiền siêu
    việt học kể lại: "Chúng tôi lắc lư, lúc đầu chậm, sau nhanh dần. Kế đó,
    chúng tôi bắt đầu nhấc mình lên khỏi mặt đất. Phải thực hành bài tập
    trong tư thế ngồi xếp bằng. Người ta sẽ bị đau đớn nếu để hai chân
    buông thõng. Lúc hạ xuống là một cú sốc. Vì thế cần phải ngồi trên
    nệm. Sau đó chúng tôi biết cách kiểm soát và bài tập trở nên thật
    thích thú".
    Liệu một ngày nào đó tất cả mọi người đều có thể biết lơ lửng
    không? Theo những người học thiền siêu việt, điều đó là có thể, với
    điều kiện phải rèn luyện tinh thần rất tích cực.
    * Trạng thái bán trọng lực
    Cũng có một cách lơ lửng đang được bàn cãi, là đặt một người
    trong trạng thái bán trọng lực. Người ấy ngồi trên ghế, xung quanh là
    4 người thí nghiệm. Bốn người này xếp hai bàn tay trên đầu người kia
    (nhưng không chạm nhau), rồi tập trung tư tưởng trong 15 giây. Sau
    đó, họ nhanh chóng đặt ngón trỏ lên khuỷu tay và đầu gối của những
    người ngồi trên ghế. Thế là người ấy được nâng khỏi mặt đất. Làm
    sao có thể giải thích được hiện tượng đó? Sự tập trung tư tưởng của 4
    người có dự tính chính xác liệu có thể giải phóng một sức mạnh bí ẩn
    của nghị lực, giúp thoát khỏi các định luật của trọng trường không?

    Nhiều câu hỏi chưa có lời giải thích thỏa mãn.
    Bennett là nhà sư. Ông nhẹ nhàng đến mức có thể tự mình nâng
    lên như một chiếc lá, tựa như đã thoát khỏi trọng lực. Tuy nhiên, hiện
    tượng lơ lửng dường như không cao được bao nhiêu: đối tượng
    thường chỉ lên được 1 - 2 m là tối đa. Nhưng biết đâu các dân tộc thời
    cổ đại đã có "chìa khoá" cho khả năng bay bổng cao hơn. Như thế, họ
    có thể thực hiện những công trình vĩ đại, chẳng hạn như các hình vẽ
    trong sa mạc Nazca ở Peru mà người ta chỉ có thể thấy rõ từ trên cao.
    Nhiều truyền thuyết của người Celte cũng kể về các pháp sư có khả
    năng bay được. Phải chăng đó là sự hoá thân của linh hồn, hay là sự
    lơ lửng thật sự của cơ thể.
    Trong nhiều trường hợp ngoại lệ, sự lơ lửng dường như có liên
    quan đến một trạng thái đặc biệt, tiếp thu được sau một quá trình
    luyện tập lâu dài. Lúc ấy, cơ thể bất chấp các định luật hấp dẫn thông
    thường nhờ một sức mạnh bí ẩn. Năm 1657, một thiếu niên Anh 12
    tuổi, Henry Jones, bỗng dưng bay lên đến trần nhà, đặt hai bàn tay
    lên trần. Hiện tượng này chỉ kéo dài trong 1 năm, và sau này cậu ta
    mất khả năng đó.

    5. NGƯỜI HOÁ SÁP MỠ VÀ CÁI CHẾT BÍ ẨN
    Ngày 27/9, tại bảo tàng Mutter,
    Philadelphia, Mỹ, người ta đã tiến
    hành chụp cắt lớp một thi thể kỳ lạ:
    xác ướp của một phụ nữ mập mạp
    đã biến đổi gần như hoàn toàn
    thành chất sáp mỡ. Người đàn bà
    này là ai? Bà ta mất vào thế kỷ
    XVII, XVIII hay XIX? Vì sao thân
    thể bà ta lại có thể hoá sáp?... Các
    nhà khoa học hy vọng sớm có câu
    trả lời từ thiết bị quét mới, máy
    Thí nghiệm chụp cắt lớp thi hài scan CT.
    Thi hài người phụ nữ này, với biệt danh "Soap Lady", đã nằm
    trong tủ kính của bảo tàng Mutter hơn một thế kỷ. Thời gian qua bà
    luôn là mẫu thực nghiệm lý tưởng cho các sinh viên y khoa và bây giờ
    xác bà đang hấp dẫn du khách như một trường hợp lý thú trong y

    học.
    Bằng máy chụp CT, các nhà khoa học đã quan sát thấy một số mô
    nội tạng. Họ hy vọng sẽ trả lời được nghi vấn lâu nay: Bà ấy chết như
    thế nào? Gerald Conlogue, Giáo sư Đại học Quinnipac và các cộng sự
    đang tìm kiếm một miếng vỏ quan tài được làm từ thứ chất xà phòng
    này bị rơi ra ngoài môi trường. Từ đó, họ sẽ hiểu rõ hơn về sự xà
    phòng hoá - hiện tượng chuyển hoá chất béo thành chất sáp mỡ.
    Trong tự nhiên, trường hợp này rất hiếm gặp vì quá trình xà phòng
    hoá phụ thuộc vào nhiều nhân tố, như độ ẩm, nhiệt độ, quần áo và
    hoạt động của vi khuẩn. Người càng béo, khả năng bị xà phòng hoá
    càng lớn.
    * Đi tìm tung tích Soap Lady
    Lần thí nghiệm chụp cắt lớp là lần đầu tiên Soap Lady được đưa
    khỏi bàn trưng bày, kể từ năm 1874. Một nhà giải phẫu nổi tiếng của
    Đại học Pennsylvania, Joseph Leidy, đã tặng thi hài này cho bảo tàng.
    Leidy khẳng định Soap Lady mất vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Theo
    mẩu chú thích gắn kèm với giá trưng bày, "Người đàn bà này, có tên
    Ellenbogen, đã mất năm 1792 tại Philadenlphia vì bệnh sốt vàng và
    được chôn gần đường Fourth và Race".
    Nhưng, lời giải thích của Leidy chỉ đứng vững tới năm 1942, khi
    Tiến sĩ Joseph McFarland, người quản lý bảo tàng đã xác định Soap
    Lady mất vào thế kỷ XVIII và tên của bà đã bị quá khứ lãng quên.
    Theo ông, không có ai qua đời vì bệnh sốt vàng ở Philadenphia vào
    năm 1792. Chỉ có một trường hợp xảy ra vào 1793, nhưng tên không
    phải là "Ellenbogen". Hơn thế, chưa hề có một nghĩa địa gần đường
    Fourth và Race.
    Năm 1987, người ta đã chụp tia X trên xác ướp này và phát hiện
    thấy có 2 cái ghim thẳng và 2 chiếc khuy 4 lỗ được sản xuất vào thế kỷ
    XIX. Một quan chức bảo tàng nói: "Đến đây, tung tích của người đàn
    bà này lại càng mờ mịt hơn".

    6. BÍ MẬT VỀ HIỆN TƯỢNG ẢO GIÁC
    Một lần, bạn đang trả lời một người hỏi đường, thì đột nhiên,
    hai người lạ mặt khênh một cánh cửa đặt giữa bạn và vị khách. Bạn

    hơi ngạc nhiên một chút, nhưng sau đó
    hai kẻ bất lịch sự kia đã vội vã khênh cửa
    đi. Sau đó, bạn vẫn tiếp tục nói mà không
    nhận thấy một điều kỳ lạ đã xảy ra...
    Người khách hỏi: "Chị thấy gì lạ
    không?". Bạn nhăn trán... hình như bạn
    cảm thấy có gì đó khác lạ nhưng lại không
    hiểu là gì. Người khách lại hỏi: "Chị thử
    nhìn tôi kỹ hơn xem nào!" Bạn nhìn rất
    sâu vào mắt người khách, rồi bạn để ý tới
    giọng anh ta nói, tới áo quần anh ta mặc... Hồi lâu... “A!” Bạn bỗng
    hét lên. Đứng trước mặt bạn là một người đàn ông hoàn toàn khác
    chứ không phải người đã hỏi đường bạn... Một lúc sau, người lạ mặt
    này giải thích cho bạn biết rằng, anh ta là một trong hai người đàn
    ông khênh cánh cửa và đã tráo đổi vị trí với người khách hỏi đường
    trong thời gian ngắn ngủi khi họ dừng lại giữa hai người...
    Trên đây là một ví dụ tiêu biểu về hiện tượng ảo giác, một hiện
    tượng kỳ lạ và khó hiểu nhất thường gặp trong thực tế. Người làm thí
    nghiệm này là Giáo sư Daniel Simons, Đại học Havard, Mỹ. Ông đã
    tiến hành thí nghiệm này trên hàng trăm trường hợp khác nhau và
    kết quả thật kỳ lạ: Trên 50% các trường hợp, người chỉ đường vẫn
    tiếp tục nói chuyện với vị khách hỏi đường đã bị đánh tráo mà không
    nhận ra điều gì lạ, mặc dù hai nhân vật này hoàn toàn khác nhau, từ
    hình dáng, giọng nói tới quần áo.
    * Nhận biết có lựa chọn
    Hiện tượng trên còn có tên khoa học là "mù thoáng qua" (changeblindness). Cùng với các kết quả thí nghiệm khác, đầu những năm 90,
    hiện tượng này dẫn tới một giả thuyết gây ra nhiều cuộc tranh luận
    dữ dội: Cái chúng ta thực sự nhìn thấy ít hơn nhiều so với cái chúng
    ta tưởng rằng đã nhìn thấy. Điều đó có nghĩa là, chúng ta luôn sống
    trong ảo giác bởi niềm tin được tạo ra. Trong thí nghiệm trên, người
    chỉ đường luôn tin rằng mình đang nói chuyện với cùng một người
    hỏi đường, nên hoàn toàn không nhận thấy anh ta có sự thay đổi gì
    sau khi đã bị đánh tráo.
    Ông Simons giải thích: "Nếu bạn quan sát một khung cảnh với
    những hiện tượng xảy ra trong đó, thường bạn chỉ có thể nhận biết

    một số chi tiết nhất định. Những chi tiết này sẽ được bổ sung thêm
    nhờ khả năng nhớ lại hoặc trí tưởng tượng của bạn, để cho ra một
    hình ảnh tổng quát về cái mà bạn đã nhìn được và ghi lại trong não
    bộ".
    * Mắt có vai trò như một ống kính
    Trong hệ thống ghi chép và lưu giữ hình ảnh, mắt đóng vai trò
    như một ống kính video. Nó liên tục quét các hình ảnh để đưa vào
    trung tâm xử lý của não bộ. Tại đây, hình ảnh sẽ được phân tích rất
    nhanh. Thông tin không quan trọng sẽ bị loại bỏ và chỉ có những chi
    tiết quan trọng nhất giúp con người ứng xử trong hoàn cảnh nhất
    định mới được giữ lại trong não bộ.
    "Nhờ việc lựa chọn giữa những chi tiết quan trọng và không quan
    trọng nên con người mới có thể tồn tại được", Triết gia Danial
    Dennett đã khẳng định như vậy trong một cuốn sách có tiêu đề "Kiến
    giải về ý thức". Theo đó, hình ảnh lưu trữ trong bộ não lâu ngày đã
    chiếm quá nhiều bộ nhớ nên nó chỉ ghi lại những gì đã thay đổi và giả
    định rằng, tất cả những thứ khác vẫn giữ nguyên như vậy.
    * Chuyện về một con vượn chạy qua...
    Daniel Simons lại tiếp tục làm một thí nghiệm nữa để chứng minh
    rằng, thực tế chúng ta luôn bỏ sót những chi tiết nhất định. Ông cho
    mời 40 người đàn ông tới xem một trận bóng rổ và yêu cầu họ đếm
    tất cả các đường chuyền của hai đội. Những người đàn ông đều tập
    trung hết sức vào các pha chuyền bóng. Đột nhiên xuất hiện một con
    vượn chạy đi chạy lại qua sân bóng đến 5 giây đồng hồ. Sau đó,
    Simons đã hỏi tất cả 40 người đàn ông này về con vượn và họ đều trả
    lời là không nhìn thấy gì cả.
    "Thường thì người ta không bao giờ nhìn thấy rừng xanh giữa
    đám cây cối rậm rạp", Simons nói. Điều đó đôi khi rất nguy hiểm. Các
    chuyên gia nghiên cứu giao thông cho biết, phần lớn các tai nạn ôtô
    đều có liên quan tới hiện tượng "mù thoáng qua". Trong thí nghiệm
    trên, những người đàn ông chúi mắt vào các quả bóng có thể so sánh
    với người tài xế đang lái xe chạy trên đường và mải mê nghĩ về một
    chuyện gì đó, còn con vượn giống như người qua đường. Thế là xảy
    ra tai nạn.

    * Giải mã nụ cười của nàng Mona Lisa
    Nụ cười của Mona Lisa
    cũng gây ảo giác. Càng nhìn lâu
    vào khuôn mặt nàng, bạn càng
    thấy đôi mắt ấy đang cười, rất
    kiêu sa và rất mãn nguyện.
    Nhưng chỉ cần nhìn xuống khoé
    miệng một chút bạn sẽ thấy
    khuôn mặt người thiếu nữ
    Mona Lisa, nỗi buồn ẩn dưới nụ cười nghiêm nghị kỳ lạ. Đột nhiên,
    bạn không hiểu nàng đang vui
    hay buồn, thanh thản hay lo lắng.
    Trong phần trước chúng ta đã đề cập tới hiện tượng "mù thoáng
    qua", giải thích vì sao đôi mắt thường bỏ sót một số chi tiết nhất định
    khi ta quan sát một khung cảnh nào đó. Hoạ sĩ, triết gia, nhà khoa học
    thiên tài người Italia Leonard de Vince đã "vô tình" lợi dụng hiện
    tượng này để sáng tạo ra nụ cười bí hiểm có một không hai trên khoé
    miệng Mona Lisa.
    "Điều khiến chúng ta yêu thích Mona Lisa
    chính là bộ mặt cô ấy luôn thay đổi mỗi khi
    chúng ta nhìn, khiến cho cô ấy dường như
    sống động", Margaret Livingstone, nhà sinh
    học – thần kinh học tại Đại học Harvard (Mỹ)
    nhận xét như vậy, sau mỗi thời gian nghiên
    cứu hoạ phẩm nổi tiếng của Leonardo de
    Vince.
    Tuy nhiên, bà cho rằng thực tế bộ mặt
    Mona Lisa Mona Lisa không đổi, bản chất chính là sự thay
    đổi trong mắt người xem chứ không phải ở
    màu sơn. Theo bà, thị giác trung tâm của con
    người bắt giữ những chi tiết nhỏ rất tốt, trong khi thị giác ngoại biên
    chỉ xử lý những chi tiết lờ mờ gọi là tần số không gian thấp. Nhưng
    nụ cười của Mona Lisa lại được vẽ bằng tông màu êm dịu, rơi vào tần
    số thấp. Livingstone nói: "Bạn không thể nhìn nụ cười này bằng thị
    giác trung tâm mà phải bằng thị giác ngoại biên khi nhìn từ miệng của
    Mona Lisa".

    Hiệu quả tương tự được quan sát trên những tác phẩm cuối thế
    kỷ XIX của những người theo kỹ thuật chấm màu (pointillist), cũng
    như trên các bức hoạ chân dung hiện đại của Chuck Close và tranh
    ghép mảnh của Robert Silvers (thường dùng trong quảng cáo).
    Livingstone nhận xét: "Mỗi khi nhìn, bạn nhìn những chấm riêng rẽ,
    nhưng thị giác ngoại biên thì tập hợp chúng lại với nhau và trộn lẫn
    màu sắc, vì thế bạn chuyển động mắt xung quanh và tạo ra những
    thay đổi trong khi nhìn". Cách giải thích này có lẽ làm ngạc nhiên
    những hoạ sĩ của kĩ thuật chấm màu, bởi họ nghĩ rằng tác phẩm của
    mình là sự trộn lẫn màu sắc.
    Tuy nhiên, Livingstone lại cho rằng Leonard không hiểu được
    điều thú vị từ bức tranh của ông: "Ông ấy viết nhiều điều nhưng
    không bao giờ viết điều này ra và cũng không vẽ lại một bức hoạ nào
    như Mona Lisa. Tôi cho rằng ông cũng nhìn thấy điều tuyệt vời trong
    nụ cười của Mona Lisa, nhưng cũng nhiều người, lại không thể phân
    tích được tại sao nó lại như vậy".

    7. CÁC HỌA SĨ TẠO ẢO GIÁC TRÊN TRANH NHƯ
    THẾ NÀO?
    Trong kiệt tác Ấn
    tượng Mặt trời mọc của
    Claude Monet, mặt trời
    dường như hút hết sinh lực
    của thiên nhiên để toả sáng
    rực rỡ. Nhưng thực ra, độ
    sáng của nó không hề lớn
    hơn những điểm xám trên
    Bức Ấn tượng mặt trời mọc của Claude nền trời xung quanh. Thì
    Monet ra, Claude Monet đã khai
    thác một đặc điểm thị giác
    của mắt người để tạo nên ảo giác đó.
    Nhà thần kinh học Margaret Livingstone, Đại học Y khoa Harvard
    (Mỹ), đã công bố công trình nghiên cứu này tại cuộc họp thường niên
    của Hiệp hội khoa học tiến bộ Mỹ, đang diễn ra tại Denver.
    Livingstone đã sử dụng những kiệt tác hội hoạ để minh chứng cho
    sự khác biệt giữa nhận thức về màu sắc và độ sáng của não người.

    Trong một chuyến thăm tới Pais gần đây, bà có dịp kiểm tra bức tranh
    Ấn tượng Mặt trời mọc vẽ bến cảng Le Harve của Monet. Tâm điểm
    của bức tranh là hình ảnh mặt trời, xuất hiện như một quả cầu lửa
    nhô lên trên nền trời mây mù xanh xám, phản chiếu ánh sáng xuống
    mặt nước, nơi những con tàu đánh cá đang buông neo. Tuy nhiên,
    trái với cảm nhận thông thường của chúng ta, Livingstone cho biết
    mặt trời trên bức tranh không hề sáng hơn so với nền trời xanh xám
    ở quanh đó.
    Bà nói: "Lý do là hệ thống thị giác của chúng ta bị phân đôi rõ rệt:
    Một bên cảm nhận về màu sắc và bên kia là về độ sáng (cường độ
    phản xạ ánh sáng). Giữa chúng không hề có mối ràng buộc với nhau.
    Khi đánh giá màu sắc bức tranh, não ta đã vô tình coi mặt trời như là
    một loại cấp sáng và vì thế ta tưởng rằng mặt trời chói loá hơn hẳn
    cảnh vật xung quanh".
    Việc đánh giá sẽ công bằng hơn, nếu tất cả đều ở dạng đen trắng,
    khi đó mọi vật thể có độ sáng như nhau đều xám cùng một cấp.
    Livingstone đã chứng minh điều này bằng cách chụp lại ảnh đen trắng
    của bức Ấn tượng Mặt trời mọc. Với bức ảnh đó, bằng mắt thường
    mặt trời biến mất, nói đúng hơn là hoà vào màu xám của nền trời, do
    nó có độ sáng bằng với độ sáng của nền trời xung quanh.
    "Các hoạ sĩ thiên tài như Monet hiểu rõ hệ thống thị giác của con
    người phân đôi như thế nào và đã khai thác nó một cách tinh tế để tạo
    ra ảo giác về màu sắc và không gian". Livingstone giải thích. Hai phần
    thị giác đó đôi khi còn được gọi là hệ thống "Where" (ở đâu) và
    "What" (cái gì). Hệ thống "Where" tồn tại ở động vật có vú, cho phép
    chúng ta có thể thấy được sự vật trong không gian 3 chiều, và nhận ra
    những vật thể di động, nhưng không thấy màu sắc. Ngược lại, hệ
    thống "What" chỉ tồn tại ở loài động vật bậc cao, trong đó có con
    người, cho phép ta nhìn thấy màu sắc, phân biệt được các khuôn mặt
    cũng như đánh giá mặt biểu hiện hoặc thái độ.
    Cũng bằng thủ pháp
    tạo hiệu ứng ảo giác,
    Leonard de Vince đã khiến
    cho nụ cười của nàng
    Mona Lisa trở nên nhẹ
    Nụ cười của Mona Lisa dưới các góc nhìn nhàng mà huyền bí.
    Livingstone cho biết: khi

    chăm chú nhìn vào đôi mắt
    của Mona Lisa, bạn chỉ
    "khoanh" được một khu
    vực rất nhỏ bên lông mày và gò má. Vì vậy, bạn không nhìn thấy toàn
    bộ khuôn mặt và không gian đằng sau bức tranh. Khi đó, các nét mờ
    trên gò má Mona Lisa sẽ hiện lên khá rõ, khiến bạn có cảm giác khoé
    môi của người phụ nữ này cũng được kéo nhếch lên và tô đậm hơn.
    Kết quả, bạn thấy người phụ nữ cười. Ngược lại, khi bạn nhìn vào
    miệng nàng thì hiệu ứng này cũng lập tức biến mất cùng với nụ cười
    ấy. Thì ra nụ cười này vừa thật, vừa ảo. Có điều, khi sử dụng "mẹo" ảo
    giác này, Leonard de Vince có lẽ đã không vận dụng đến kiến thức
    khoa học mà dựa vào kinh nghiệm của một nghệ sĩ nhiều hơn.
    khác nhau (chọn tâm điểm của bức tranh
    khác nhau).

    * "Mắt thần"
    Bài nghiên cứu của Giáo sư Itzhk Fried, Đại học California (Mỹ)
    đăng trên tạp chí khoa học The Lancet năm 1992 khẳng định: "Để
    nhận biết hình ảnh, con người cần rất ít thực tế". Đây là một kết luận
    thật khó hiểu. Để tìm hiểu xem Fried nói gì, một lần nữa, chúng ta lại
    phải quay lại... với bức tranh Mona Lisa.
    Fried cho mời 100 người đàn ông tới một cuộc thử nghiệm. Ông
    chia họ làm hai nhóm. Nhóm thứ nhất được nhìn thấy bản sao của
    Mona Lisa treo trên tường, còn nhóm thứ hai tới một căn phòng
    trống trơn để nghe kể về bức tranh. Sau đó ông mời hai nhóm tới một
    căn phòng khác và đề nghị họ miêu tả lại bức tranh. Trong khi những
    người này miêu tả, Fried dùng một phương pháp đặc biệt để đo các
    hoạt động trong não bộ của họ. Kết quả thật kỳ lạ: Não bộ của những
    người này đều vận động các tế bào giống hệt nhau và "bức tranh" mà
    họ kể lại khá giống nhau: Chúng đều là sản phẩm của rất ít thực tế và
    rất nhiều tưởng tượng.
    "Điều quan trọng không phải là chúng ta nhìn thấy bức tranh thật
    hay chỉ ngồi tưởng tượng. Mỗi người đều có một con mắt thần – bộ
    phận lưu giữ các hình ảnh tưởng tượng – giúp chúng ta có thể tổng
    hợp hình ảnh và trình bày một khung cảnh nhất định", Fried nói.
    * Thực tế và ảo giác
    Tại sao bạn luôn có cảm giác rằng bạn có một bức tranh đầy đủ và
    thực tế về cuộc sống hiện thực này? "Bởi vì rất hiếm khi bạn gặp được

    ai đó chỉ cho thấy điều ngược lại!", các nhà
    nghiên cứu hành vi giải thích.
    Não bộ của bạn luôn được thu nạp và
    xử lý một số hình ảnh mà mắt bạn "quét"
    được từ thực tế, nhưng nó còn thu nhận
    một khối lượng lớn hơn nhiều các hình ảnh
    từ kho kinh nghiệm và trí tưởng tượng của
    bạn. Mặt khác, việc não bộ của bạn lựa chọn
    Ảo giác hoa Thủy Tiên "thực tế" nào là do trí tưởng tượng quyết
    đ...
     
    Gửi ý kiến

    Không có gì có thể thay thế văn hóa đọc

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC PHÚ CÁT - TP HUẾ !