Dạy bé các phương tiện giao thông | Vạn điều hay cho bé
bi-an-cua-nhan-loai

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 08h:22' 05-03-2024
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 08h:22' 05-03-2024
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
hế giới chúng ta đang sống quả thực vô cùng rộng lớn và
hàng ngày vẫn luôn xảy ra các sự kiện, hiện tượng mà chúng
ta chưa thể giải thích được bằng những hiểu biết hiện có. Trải
qua bao nhiêu thế kỷ với khả năng hiểu biết ngày càng mở
rộng, con người đã phần nào hiểu được thế giới tự nhiên xung
quanh mình. Nhưng tỉ lệ thuận với nó, những điều kỳ lạ không ít
hơn mà ngày càng nhiều, càng thách thức trí tuệ và kiến thức của
nhân loại.
T
Với mong muốn cung cấp cho bạn đọc những thông tin về các sự
kiện, hiện tượng kỳ bí đang diễn ra xung quanh cuộc sống của con
người, được giải thích trên cơ sở khoa học, Nhà xuất bản Từ Điển
Bách Khoa xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc cuốn "Bí ẩn của
nhân loại". Hy vọng cuốn sách sẽ là nguồn tài liệu bổ ích, hấp dẫn
đối với những bạn đọc.
NXB TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA
PHẦN 1:
CON NGƯỜI – THẾ GIỚI KỲ BÍ NHẤT
TRONG VŨ TRỤ
1. NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ CƠ THỂ CON
NGƯỜI
ơ thể con người là một trong những bộ máy kỳ diệu nhất.
Chúng ta biết rằng quả tim của mỗi người phải làm việc suốt
70-80 năm trời không một giây phút ngừng nghỉ, thì mới
thấy hết được sự kỳ diệu đó. Dù là chủ sở hữu, nhưng không
mấy ai trong chúng ta hiểu hết những gì đang xảy ra trong cơ thể
mình.
C
- Trong suốt một đời người, quả tim đập 3 tỷ lần và bơm 48 triệu
gallon máu.
- Mỗi ngày, máu thực hiện một cuộc hành trình dài 95.540km
trong cơ thể chúng ta.
- Bộ não trung bình của một người có 100 tỷ tế bào thần kinh.
- Các xung động thần kinh truyền đến não và từ não truyền đi với
vận tốc 274 km/giờ.
- Không bao giờ bạn có thể hắt hơi mà không phải nhắm mắt.
- Khi bạn hắt hơi, mọi chức năng của cơ thể đều ngưng hoạt động
kể cả trái tim.
- Dạ dày của bạn cần phải tạo ra một lớp màng nhầy mới cứ sau
hai tuần lễ, nếu không, nó sẽ tự "tiêu hoá" nó.
- Cần có sự tương tác của 72 cơ bắp khác nhau để tạo thành tiếng
nói của chúng ta.
- Tuổi thọ trung bình của mỗi chiếc gai lưỡi là 10 ngày.
- Tiếng ho văng ra khỏi miệng chúng ta với vận tốc 96 km/giờ.
- Đứa trẻ sinh ra không có xương bánh chè. Phải chờ khi chúng
được từ 2 đến 6 tuần tuổi thì bộ phận này mới xuất hiện.
- Chúng ta sinh ra với 300 khúc xương, khi trưởng thành, chỉ còn
206 khúc xương.
- Đứa trẻ lớn nhanh hơn vào mùa xuân so với các mùa khác.
- Trong suốt một đời người, phụ nữ chớp mắt nhiều gần gấp 2 lần
đàn ông.
- Một người nháy mắt trung bình 6.205.000 lần mỗi năm.
- Người còn một mắt chỉ bị mất khoảng 1,5 thị lực, nhưng mất
toàn bộ cảm giác về chiều sâu.
- Từ lúc sinh ra cho đến khi trưởng thành, mắt của chúng ta vẫn
không thay đổi, trong khi đó, tai và mũi không ngừng phát triển cho
đến lúc cuối đời.
- Trung bình một đời người, chúng ta đi bộ trên một quãng
đường dài bằng 5 lần đường xích đạo.
- Da đầu mỗi người trung bình chứa 100.000 sợi tóc.
- Hộp sọ con người được cấu tạo bởi 29 mảnh xương khác nhau.
- Tốc độ mọc dài ra của móng tay tương ứng với chiều dài ngón
tay. Móng tay của ngón giữa mọc nhanh nhất. Móng tay mọc nhanh
gấp đôi móng chân.
- Tóc và móng tay có cùng một chất liệu cấu tạo như nhau.
- Khi con người chết đi, cơ thể khô lại, tạo ảo giác là móng tay và
tóc còn tiếp tục mọc thêm sau khi chết.
- Diện tích bề mặt ruột là 200 m2.
- Diện tích bề mặt da người là 2 m2.
- Một người trung bình bị thay đi hơn 18 kg da trong một đời
người.
- Cứ mỗi giây đi qua, có 15 triệu tế bào máu bị tiêu huỷ trong cơ
thể.
- Mỗi năm qua đi, có khoảng 98% nguyên tử trong cơ thể bị thay
thế.
- Quả tim con người tạo ra một áp suất đủ để đẩy máu đi xa 9 m.
- Xương đùi của con người cứng hơn bê tông.
- Dưới lớp da mỗi người có 72 km dây thần kinh.
- Mỗi 2,5 cm2 da người chứa 6 m mạch máu.
- Cứ 24 giờ, một người trung bình thở 23.040 lần.
2. BÍ MẬT CỦA HIỆN TƯỢNG SIÊU TRÍ NHỚ
Năm 20 tuổi, cô gái Elina Markand (người Đức) bị tai nạn. Khi
tỉnh dậy, Elina bỗng nói tiếng Italy rất thông thạo, mặc dù trước đó
cô chưa từng học một ngoại ngữ nào. Cô còn tự nhận mình là
Rozetta Caste Liani, công dân Italy và được yêu cầu được trở về
thăm quê hương.
Về tới “ nhà", Elina mới biết
rằng người có tên là Rozetta
Caste đã mất từ năm 1917. Đón
cô là một bà già lụ khụ, xưng là
con gái của Rozetta Caste. Elina
chỉ tay vào bà già, nói: "Đây là
Fransa, con gái tôi!". Lúc ấy, tất
cả mọi người đều giật mình, vì
“Mysytic” tranh của Liisa Rahkonen người đàn bà quả thực tên là
Fransa, đúng như Elina gọi.
Câu chuyện của Elina Markand đã trở thành đề tài đầy hấp dẫn
cho khoa học. Thực tế, trong lịch sử từng có không ít trường hợp
tương tự và hiện tượng "nhớ về quá khứ" không nhất thiết phải bắt
đầu từ một chấn thương nào đó, như trường hợp của Elina Markand.
Vào thập niên trước, một cô gái nhỏ người Anh đã biến thành
"một người xa lạ" sau khi thức dậy vào một buổi sáng. Em không
nhận ra mẹ và người thân của mình, không nói được tiếng mẹ đẻ
trong khi lại thông thạo tiếng Tây Ban Nha và lúc nào cũng tỏ ra sợ
sệt.
Các bác sĩ đều có kết luận giống nhau: Em bé 10 tuổi này không có
biểu hiện gì về bệnh lý hoặc tâm thần, sức khoẻ tốt. Em nhận mình là
người Tây Ban Nha và sống ở thành phố Toledo. Em kể lại rằng một
người cùng phố do ghen ghét và đố kỵ đã đâm chết em năm em 22
tuổi. Cảnh sát Tây Ban Nha đã thẩm tra lại câu chuyện kỳ quặc về
"tiền kiếp" của em và kết luận, đúng như lời em kể. Ở số nhà đó trong
thành phố Toledo từng có một cô gái 22 tuổi bị hãm hại. Những
người hàng xóm đã tìm thấy xác cô ngay trong nhà. Câu chuyện càng
sáng tỏ hơn khi hung thủ (lúc này đã già) tự đến gặp cảnh sát để thú
tội.
Các nhà khoa học còn tiếp tục ghi nhận nhiều trường hợp khác.
Chẳng hạn có một người đột nhiên "biến thành” công dân La Mã cổ
đại, với bằng chứng khó chối cãi là anh ta biết sử dụng thứ ngôn ngữ
"nguyên thuỷ" của mình, mà không còn ai hiểu được. Tương tự như
vậy, có người châu Âu bỗng nói tiếng Ai Cập, mất hẳn khả năng nói
tiếng mẹ đẻ. Rồi anh ta mô tả chính xác cảnh vật ở sông Nile và tự
nhận có nguồn gốc Ai Cập.
* "Trí nhớ gene"
Một số nhà khoa học đã thử đưa ra một lý thuyết giải thích hiện
tượng trên với khái niệm "trí nhớ gene": Nếu các vùng "ngủ" trong
ADN bị kích thích, con người có thể trở về tiền kiếp". Họ bỗng nhớ lại
nguồn gốc La Mã hoặc Ai Cập từ xã xưa. Cũng do ảnh hưởng bởi tiền
kiếp mà nhiều người có thói quen xoa râu quai nón, mặc dù trên mặt
không hề có râu. Người khác lại có thói quen nhấc vạt áo vét, y như
động tác vén váy dài đang mặc khi vượt qua vũng nước của phụ nữ.
Như ở cô Elina người Đức và bé gái người Anh thì rõ ràng không
hề có quan hệ nào về "gene di truyền" với người mà mình hoá thân,
có nghĩa là trường hợp của họ không thể giải thích bằng "trí nhớ
gene". Vậy nghĩa là thế nào? Những người theo đạo phật rất quen
thuộc với thuyết luân hồi cho rằng thể xác con người – tức là cái "bề
ngoài" – luôn thay đổi. Còn cái "bên trong thể xác" – tức linh hồn – là
vĩnh cửu. Theo thuyết luân hồi, cuộc sống không khởi đầu bằng sự
sinh ra và cũng không kết thúc bằng sự mất đi. Cuộc sống cứ trôi vô
tận. Linh hồn ở mỗi "kiếp" lại nhập vào một thân xác mới. Vì thế, sẽ
không lạ khi cô Elina và bé gái người Anh đột nhiên nhớ lại kiếp
trước của mình.
* Thuyết về kết cấu "phách"
Lại có một số nhà vật lý và sinh học đưa ra cách giải thích vấn đề
trên bằng "kết cấu phách". "Phách" ở đây tất nhiên không phải là
"phách" trong âm nhạc, mà là một khái niệm chỉ "phần bất biến" của
con người, còn được hiểu là "phần năng lượng tách ra dưới dạng
sóng". Khi người chết, "phách" liền tan vào vũ trụ. Vì thế, "phách" có
thể hiểu là một loại "trường sóng hạt cơ bản nhẹ, hoặc là "tập hợp
những năng lượng thông tin cá thể".
Theo các nhà khoa học này, thuyết về phách có thể lý giải được
như đa phần hiện tượng thần đồng (trong âm nhạc, thi ca, khoa
học...). Ở tuổi rất trẻ, những thần đồng này đã tích tụ được lượng
kiến thức khổng lồ mà người bình thường cả đời dù học tập chăm chỉ
cũng khó có được. Theo thuyết này, "phách" của các thiên tài là sản
phẩm của hàng vạn kiếp trong quá khứ dồn lại trong một cơ thể hiện
hữu. Nói cách khác, "trường sóng hạt cơ bản nhẹ" hay những "tập
hợp thông tin cá thể" đã tập trung vào cơ thể họ theo một quy luật
nào đó.
Nhiều nhà khoa học đã mạnh dạn đề cập tới những khái niệm rất
mới về hiện tượng "nhớ về quá khứ". Họ đã lập ra một quy trình công
nghệ" cho phép bằng thực nghiệm đưa con người vào trạng thái giữa
mơ và thực. Ở trạng thái lơ lửng kỳ ảo này, người tham gia thực
nghiệm vẫn nhìn thấy những gì quanh mình, nhưng trong tiềm thức,
họ lại thấy cả quá khứ. Phương pháp thực nghiệm này đã được áp
dụng để chữa một số bệnh tâm thần và đem lại kết quả.
Mặc dù đã có những thành tựu nhất định, nhưng đến nay, những
chuyện về "siêu trí nhớ" gần như vẫn nằm ngoài vòng nghiên cứu của
khoa học chính thống. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là nhân loại
chịu bỏ cuộc để rơi tự do vào vòng "bất khả tri", các nhà khoa học vẫn
đang tìm cách để nghiên cứu những điều khó giải thích nhất.
3. NGỦ LỊM HÀNG CHỤC NĂM – MỘT HIỆN
TƯỢNG CHƯA ĐƯỢC GIẢI THÍCH
Do bị tưởng nhầm là đã chết, cô bé Nazira Rustemova (4 tuổi,
người Kazakstan) từng bị chôn sống. Được đưa ra khỏi mộ, Nazira
chìm vào một giấc ngủ dài 16 năm rồi mới đây bỗng nhiên tỉnh giấc.
Cơ thể của cô (vốn thay đổi rất ít trong thời gian hôn mê) bỗng lớn
lên từng ngày để nhanh chóng trở thành cơ thể một thiếu nữ trưởng
thành.
Đó là một trong những trường hợp mắc chứng hôn thuỵ, cho đến
nay vẫn là một bí ẩn đối với khoa học. Những người bị chứng hôn
thuỵ có thể ngủ hàng tháng trời, thậm chí vài chục năm. Trong thời
gian đó, cơ thể họ hầu như không có sự thay đổi. Sau khi tỉnh giấc,
quá trình trao đổi chất được tăng tốc khiến cho cơ thể lớn nhanh
trông thấy, y như trong truyện cổ tích. Ở một số bệnh nhân còn xuất
hiện nhiều khả năng kỳ lạ mà trước khi hôn mê họ chưa hề có. Nazira
Rustemova là một trường hợp điển hình.
Lúc mới sinh, Nazira là một cô bé khoẻ mạnh, cơ thể phát triển
bình thường như bao đứa trẻ khác. Gần đến sinh nhật lần thứ 4, đột
nhiên cô bé bị đau đầu dữ dội, không thuốc nào làm giảm được. Sau
mỗi cơn đau, cô bé lại lịm đi. Một buổi sáng, khi vào đánh thức con,
cha mẹ của Nazira thấy cô bé nằm bất động trên giường. Các bác sĩ ở
bệnh viện huyện khẳng định Nazira đã chết mà không rõ nguyên
nhân.
Sau khi mai táng cho Nazira, ông và bố cô bé nằm mộng thấy có
người bảo rằng Nazira chưa chết mã đã bị chôn sống. Người cha trở
lại nghĩa địa, lật ván áo quan lên để kiểm tra. Ông sửng sốt nhận thấy
xác con gái đã nằm sát vào một góc chứ không ở vị trí chính giữa như
lúc hạ huyệt. Lớp vải liệm quấn quanh cô bé bị nhàu và đôi chỗ có vết
cào xước. Ông vội vàng bế con về nhà.
Hai tuần liền. Gia đình Nazira tìm mọi cách để đánh thức cô bé
nhưng vô hiệu. Khi biết tin, Bộ Y tế Liên Xô đã chuyển Nazira lên
Matxcơva để nghiên cứu. Cô bé được đặt trong lồng kính suốt 16 năm
cho đến ngày tỉnh lại.
"Suốt thời gian đó, tôi không hề ngồi dậy lần nào" – Nazira nhớ
lại – "Mặc dù nằm bất động nhưng tôi vẫn nhận biết được mọi
chuyện xảy ra xung quanh mình. Thậm chí có lần tôi còn ngửi thấy
hương thơm thoang thoảng đặc trưng của vùng thảo nguyên quê tôi.
Một hôm, tôi nghe thấy tiếng chuông điện thoại réo rất lâu. Mãi mà
không có ai nhấc máy; thế là tôi quyết định đứng dậy để nói chuyện
điện thoại..." Sau khi tỉnh giấc, Nazira được các bác sĩ giữ lại để tiếp
tục kiểm tra sức khoẻ trong mấy tháng rồi mới trở về nhà.
Trong 16 năm ngủ lịm, người Nazira chỉ dài thêm 30 cm mặc dù
vẫn tiếp nhận thức ăn qua hệ thống ống dẫn nối với dạ dày. Tuy
nhiên, khi tỉnh lại, cơ thể cô phát triển nhanh như thổi. Chỉ trong một
thời gian rất ngắn từ một cô bé, Nazira đã có một cơ thể phát triển
như mọi cô gái 20 tuổi khác.
Trong mấy ngày đầu, Nazira đã phục hồi khả năng khẩu ngữ, có
thể giao tiếp với mọi người mà không quên từ nào. Thậm chí, cô còn
nói được 4 ngoại ngữ, trong đó có tiếng Latinh (một ngôn ngữ hiện
nay rất ít người biết) và tự nhấc mình khỏi mặt đất nhẹ nhàng như
bay. Tuy nhiên, sau đó mấy năm, những khả năng này biến mất.
Nazira quên cả tiếng mẹ đẻ (tiếng Kazakstan), chỉ còn nhớ duy nhất
tiếng Nga.
4. HIỆN TƯỢNG "NGƯỜI LƠ LỬNG"
"Quá trưa, Subbayah Pullivar ra chào chúng tôi và cho biết đã
thực hành yoga được gần 20 năm.
Khi nghi lễ lơ lửng bắt đầu,
nhà yoga Ấn Độ này đi vào một cái
lều. Vài phút sau, vách lều được
nâng lên, cho thấy ông đang lơ
lửng giữa vòng tròn nước". Đó là
lời kể của P.Y.Plunkett, một người
bạn tận mắt chứng kiến màn biểu
Lơ lửng không phải là không thể diễn ngày 6/6/1936.
Nhiều khán giả đến gần kiểm tra để xem có sự gian dối nào
không. Subbayah Pullivar như trong trạng thái lên đồng, lơ lửng trên
không, cách mặt đất khoảng 1 mét. Ông dựa vào một cây gậy, hẳn là
chỉ để giữ thăng bằng, Plunkett và bạn bè đến kiểm tra xung quanh
nhà yoga: chẳng có dây hay trò ma mãnh nào cả.
Sau đó, cái lều được phủ xuống và Pullivar hạ xuống đất. Plunkett
chứng kiến sự hạ xuống này qua một cái khe trên vách lều mỏng. “Sau
một phút, nhà yoga có vẻ lắc lư. Ông bắt đầu hạ xuống từ từ, vẫn
trong tư thế nằm ngang như lúc đầu. Phải mất 5 phút để chạm xuống
đất. Lúc ấy, các đệ tử đưa ông ra giữa khán giả, yêu cầu mọi người
thử bẻ tay bẻ chân ông. Nhưng dù có nhiều người, chúng tôi vẫn
không thể làm được. Subbayay Pullivar được xoa bóp bằng nước lạnh
hơn 5 phút sau khi rời khỏi trạng thái lơ lửng và lại cử động tay chân
bình thường”.
Trong nhiều trường hợp lơ lửng khác, khán giả chú ý đến chuyển
động lắc lư và tư thế nằm ngang. Cảnh tượng diễn ra tại Thuỵ Sĩ, ở
trường của nhà yoga Maharishi Mahesh, một học viên môn thiền siêu
việt học kể lại: "Chúng tôi lắc lư, lúc đầu chậm, sau nhanh dần. Kế đó,
chúng tôi bắt đầu nhấc mình lên khỏi mặt đất. Phải thực hành bài tập
trong tư thế ngồi xếp bằng. Người ta sẽ bị đau đớn nếu để hai chân
buông thõng. Lúc hạ xuống là một cú sốc. Vì thế cần phải ngồi trên
nệm. Sau đó chúng tôi biết cách kiểm soát và bài tập trở nên thật
thích thú".
Liệu một ngày nào đó tất cả mọi người đều có thể biết lơ lửng
không? Theo những người học thiền siêu việt, điều đó là có thể, với
điều kiện phải rèn luyện tinh thần rất tích cực.
* Trạng thái bán trọng lực
Cũng có một cách lơ lửng đang được bàn cãi, là đặt một người
trong trạng thái bán trọng lực. Người ấy ngồi trên ghế, xung quanh là
4 người thí nghiệm. Bốn người này xếp hai bàn tay trên đầu người kia
(nhưng không chạm nhau), rồi tập trung tư tưởng trong 15 giây. Sau
đó, họ nhanh chóng đặt ngón trỏ lên khuỷu tay và đầu gối của những
người ngồi trên ghế. Thế là người ấy được nâng khỏi mặt đất. Làm
sao có thể giải thích được hiện tượng đó? Sự tập trung tư tưởng của 4
người có dự tính chính xác liệu có thể giải phóng một sức mạnh bí ẩn
của nghị lực, giúp thoát khỏi các định luật của trọng trường không?
Nhiều câu hỏi chưa có lời giải thích thỏa mãn.
Bennett là nhà sư. Ông nhẹ nhàng đến mức có thể tự mình nâng
lên như một chiếc lá, tựa như đã thoát khỏi trọng lực. Tuy nhiên, hiện
tượng lơ lửng dường như không cao được bao nhiêu: đối tượng
thường chỉ lên được 1 - 2 m là tối đa. Nhưng biết đâu các dân tộc thời
cổ đại đã có "chìa khoá" cho khả năng bay bổng cao hơn. Như thế, họ
có thể thực hiện những công trình vĩ đại, chẳng hạn như các hình vẽ
trong sa mạc Nazca ở Peru mà người ta chỉ có thể thấy rõ từ trên cao.
Nhiều truyền thuyết của người Celte cũng kể về các pháp sư có khả
năng bay được. Phải chăng đó là sự hoá thân của linh hồn, hay là sự
lơ lửng thật sự của cơ thể.
Trong nhiều trường hợp ngoại lệ, sự lơ lửng dường như có liên
quan đến một trạng thái đặc biệt, tiếp thu được sau một quá trình
luyện tập lâu dài. Lúc ấy, cơ thể bất chấp các định luật hấp dẫn thông
thường nhờ một sức mạnh bí ẩn. Năm 1657, một thiếu niên Anh 12
tuổi, Henry Jones, bỗng dưng bay lên đến trần nhà, đặt hai bàn tay
lên trần. Hiện tượng này chỉ kéo dài trong 1 năm, và sau này cậu ta
mất khả năng đó.
5. NGƯỜI HOÁ SÁP MỠ VÀ CÁI CHẾT BÍ ẨN
Ngày 27/9, tại bảo tàng Mutter,
Philadelphia, Mỹ, người ta đã tiến
hành chụp cắt lớp một thi thể kỳ lạ:
xác ướp của một phụ nữ mập mạp
đã biến đổi gần như hoàn toàn
thành chất sáp mỡ. Người đàn bà
này là ai? Bà ta mất vào thế kỷ
XVII, XVIII hay XIX? Vì sao thân
thể bà ta lại có thể hoá sáp?... Các
nhà khoa học hy vọng sớm có câu
trả lời từ thiết bị quét mới, máy
Thí nghiệm chụp cắt lớp thi hài scan CT.
Thi hài người phụ nữ này, với biệt danh "Soap Lady", đã nằm
trong tủ kính của bảo tàng Mutter hơn một thế kỷ. Thời gian qua bà
luôn là mẫu thực nghiệm lý tưởng cho các sinh viên y khoa và bây giờ
xác bà đang hấp dẫn du khách như một trường hợp lý thú trong y
học.
Bằng máy chụp CT, các nhà khoa học đã quan sát thấy một số mô
nội tạng. Họ hy vọng sẽ trả lời được nghi vấn lâu nay: Bà ấy chết như
thế nào? Gerald Conlogue, Giáo sư Đại học Quinnipac và các cộng sự
đang tìm kiếm một miếng vỏ quan tài được làm từ thứ chất xà phòng
này bị rơi ra ngoài môi trường. Từ đó, họ sẽ hiểu rõ hơn về sự xà
phòng hoá - hiện tượng chuyển hoá chất béo thành chất sáp mỡ.
Trong tự nhiên, trường hợp này rất hiếm gặp vì quá trình xà phòng
hoá phụ thuộc vào nhiều nhân tố, như độ ẩm, nhiệt độ, quần áo và
hoạt động của vi khuẩn. Người càng béo, khả năng bị xà phòng hoá
càng lớn.
* Đi tìm tung tích Soap Lady
Lần thí nghiệm chụp cắt lớp là lần đầu tiên Soap Lady được đưa
khỏi bàn trưng bày, kể từ năm 1874. Một nhà giải phẫu nổi tiếng của
Đại học Pennsylvania, Joseph Leidy, đã tặng thi hài này cho bảo tàng.
Leidy khẳng định Soap Lady mất vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Theo
mẩu chú thích gắn kèm với giá trưng bày, "Người đàn bà này, có tên
Ellenbogen, đã mất năm 1792 tại Philadenlphia vì bệnh sốt vàng và
được chôn gần đường Fourth và Race".
Nhưng, lời giải thích của Leidy chỉ đứng vững tới năm 1942, khi
Tiến sĩ Joseph McFarland, người quản lý bảo tàng đã xác định Soap
Lady mất vào thế kỷ XVIII và tên của bà đã bị quá khứ lãng quên.
Theo ông, không có ai qua đời vì bệnh sốt vàng ở Philadenphia vào
năm 1792. Chỉ có một trường hợp xảy ra vào 1793, nhưng tên không
phải là "Ellenbogen". Hơn thế, chưa hề có một nghĩa địa gần đường
Fourth và Race.
Năm 1987, người ta đã chụp tia X trên xác ướp này và phát hiện
thấy có 2 cái ghim thẳng và 2 chiếc khuy 4 lỗ được sản xuất vào thế kỷ
XIX. Một quan chức bảo tàng nói: "Đến đây, tung tích của người đàn
bà này lại càng mờ mịt hơn".
6. BÍ MẬT VỀ HIỆN TƯỢNG ẢO GIÁC
Một lần, bạn đang trả lời một người hỏi đường, thì đột nhiên,
hai người lạ mặt khênh một cánh cửa đặt giữa bạn và vị khách. Bạn
hơi ngạc nhiên một chút, nhưng sau đó
hai kẻ bất lịch sự kia đã vội vã khênh cửa
đi. Sau đó, bạn vẫn tiếp tục nói mà không
nhận thấy một điều kỳ lạ đã xảy ra...
Người khách hỏi: "Chị thấy gì lạ
không?". Bạn nhăn trán... hình như bạn
cảm thấy có gì đó khác lạ nhưng lại không
hiểu là gì. Người khách lại hỏi: "Chị thử
nhìn tôi kỹ hơn xem nào!" Bạn nhìn rất
sâu vào mắt người khách, rồi bạn để ý tới
giọng anh ta nói, tới áo quần anh ta mặc... Hồi lâu... “A!” Bạn bỗng
hét lên. Đứng trước mặt bạn là một người đàn ông hoàn toàn khác
chứ không phải người đã hỏi đường bạn... Một lúc sau, người lạ mặt
này giải thích cho bạn biết rằng, anh ta là một trong hai người đàn
ông khênh cánh cửa và đã tráo đổi vị trí với người khách hỏi đường
trong thời gian ngắn ngủi khi họ dừng lại giữa hai người...
Trên đây là một ví dụ tiêu biểu về hiện tượng ảo giác, một hiện
tượng kỳ lạ và khó hiểu nhất thường gặp trong thực tế. Người làm thí
nghiệm này là Giáo sư Daniel Simons, Đại học Havard, Mỹ. Ông đã
tiến hành thí nghiệm này trên hàng trăm trường hợp khác nhau và
kết quả thật kỳ lạ: Trên 50% các trường hợp, người chỉ đường vẫn
tiếp tục nói chuyện với vị khách hỏi đường đã bị đánh tráo mà không
nhận ra điều gì lạ, mặc dù hai nhân vật này hoàn toàn khác nhau, từ
hình dáng, giọng nói tới quần áo.
* Nhận biết có lựa chọn
Hiện tượng trên còn có tên khoa học là "mù thoáng qua" (changeblindness). Cùng với các kết quả thí nghiệm khác, đầu những năm 90,
hiện tượng này dẫn tới một giả thuyết gây ra nhiều cuộc tranh luận
dữ dội: Cái chúng ta thực sự nhìn thấy ít hơn nhiều so với cái chúng
ta tưởng rằng đã nhìn thấy. Điều đó có nghĩa là, chúng ta luôn sống
trong ảo giác bởi niềm tin được tạo ra. Trong thí nghiệm trên, người
chỉ đường luôn tin rằng mình đang nói chuyện với cùng một người
hỏi đường, nên hoàn toàn không nhận thấy anh ta có sự thay đổi gì
sau khi đã bị đánh tráo.
Ông Simons giải thích: "Nếu bạn quan sát một khung cảnh với
những hiện tượng xảy ra trong đó, thường bạn chỉ có thể nhận biết
một số chi tiết nhất định. Những chi tiết này sẽ được bổ sung thêm
nhờ khả năng nhớ lại hoặc trí tưởng tượng của bạn, để cho ra một
hình ảnh tổng quát về cái mà bạn đã nhìn được và ghi lại trong não
bộ".
* Mắt có vai trò như một ống kính
Trong hệ thống ghi chép và lưu giữ hình ảnh, mắt đóng vai trò
như một ống kính video. Nó liên tục quét các hình ảnh để đưa vào
trung tâm xử lý của não bộ. Tại đây, hình ảnh sẽ được phân tích rất
nhanh. Thông tin không quan trọng sẽ bị loại bỏ và chỉ có những chi
tiết quan trọng nhất giúp con người ứng xử trong hoàn cảnh nhất
định mới được giữ lại trong não bộ.
"Nhờ việc lựa chọn giữa những chi tiết quan trọng và không quan
trọng nên con người mới có thể tồn tại được", Triết gia Danial
Dennett đã khẳng định như vậy trong một cuốn sách có tiêu đề "Kiến
giải về ý thức". Theo đó, hình ảnh lưu trữ trong bộ não lâu ngày đã
chiếm quá nhiều bộ nhớ nên nó chỉ ghi lại những gì đã thay đổi và giả
định rằng, tất cả những thứ khác vẫn giữ nguyên như vậy.
* Chuyện về một con vượn chạy qua...
Daniel Simons lại tiếp tục làm một thí nghiệm nữa để chứng minh
rằng, thực tế chúng ta luôn bỏ sót những chi tiết nhất định. Ông cho
mời 40 người đàn ông tới xem một trận bóng rổ và yêu cầu họ đếm
tất cả các đường chuyền của hai đội. Những người đàn ông đều tập
trung hết sức vào các pha chuyền bóng. Đột nhiên xuất hiện một con
vượn chạy đi chạy lại qua sân bóng đến 5 giây đồng hồ. Sau đó,
Simons đã hỏi tất cả 40 người đàn ông này về con vượn và họ đều trả
lời là không nhìn thấy gì cả.
"Thường thì người ta không bao giờ nhìn thấy rừng xanh giữa
đám cây cối rậm rạp", Simons nói. Điều đó đôi khi rất nguy hiểm. Các
chuyên gia nghiên cứu giao thông cho biết, phần lớn các tai nạn ôtô
đều có liên quan tới hiện tượng "mù thoáng qua". Trong thí nghiệm
trên, những người đàn ông chúi mắt vào các quả bóng có thể so sánh
với người tài xế đang lái xe chạy trên đường và mải mê nghĩ về một
chuyện gì đó, còn con vượn giống như người qua đường. Thế là xảy
ra tai nạn.
* Giải mã nụ cười của nàng Mona Lisa
Nụ cười của Mona Lisa
cũng gây ảo giác. Càng nhìn lâu
vào khuôn mặt nàng, bạn càng
thấy đôi mắt ấy đang cười, rất
kiêu sa và rất mãn nguyện.
Nhưng chỉ cần nhìn xuống khoé
miệng một chút bạn sẽ thấy
khuôn mặt người thiếu nữ
Mona Lisa, nỗi buồn ẩn dưới nụ cười nghiêm nghị kỳ lạ. Đột nhiên,
bạn không hiểu nàng đang vui
hay buồn, thanh thản hay lo lắng.
Trong phần trước chúng ta đã đề cập tới hiện tượng "mù thoáng
qua", giải thích vì sao đôi mắt thường bỏ sót một số chi tiết nhất định
khi ta quan sát một khung cảnh nào đó. Hoạ sĩ, triết gia, nhà khoa học
thiên tài người Italia Leonard de Vince đã "vô tình" lợi dụng hiện
tượng này để sáng tạo ra nụ cười bí hiểm có một không hai trên khoé
miệng Mona Lisa.
"Điều khiến chúng ta yêu thích Mona Lisa
chính là bộ mặt cô ấy luôn thay đổi mỗi khi
chúng ta nhìn, khiến cho cô ấy dường như
sống động", Margaret Livingstone, nhà sinh
học – thần kinh học tại Đại học Harvard (Mỹ)
nhận xét như vậy, sau mỗi thời gian nghiên
cứu hoạ phẩm nổi tiếng của Leonardo de
Vince.
Tuy nhiên, bà cho rằng thực tế bộ mặt
Mona Lisa Mona Lisa không đổi, bản chất chính là sự thay
đổi trong mắt người xem chứ không phải ở
màu sơn. Theo bà, thị giác trung tâm của con
người bắt giữ những chi tiết nhỏ rất tốt, trong khi thị giác ngoại biên
chỉ xử lý những chi tiết lờ mờ gọi là tần số không gian thấp. Nhưng
nụ cười của Mona Lisa lại được vẽ bằng tông màu êm dịu, rơi vào tần
số thấp. Livingstone nói: "Bạn không thể nhìn nụ cười này bằng thị
giác trung tâm mà phải bằng thị giác ngoại biên khi nhìn từ miệng của
Mona Lisa".
Hiệu quả tương tự được quan sát trên những tác phẩm cuối thế
kỷ XIX của những người theo kỹ thuật chấm màu (pointillist), cũng
như trên các bức hoạ chân dung hiện đại của Chuck Close và tranh
ghép mảnh của Robert Silvers (thường dùng trong quảng cáo).
Livingstone nhận xét: "Mỗi khi nhìn, bạn nhìn những chấm riêng rẽ,
nhưng thị giác ngoại biên thì tập hợp chúng lại với nhau và trộn lẫn
màu sắc, vì thế bạn chuyển động mắt xung quanh và tạo ra những
thay đổi trong khi nhìn". Cách giải thích này có lẽ làm ngạc nhiên
những hoạ sĩ của kĩ thuật chấm màu, bởi họ nghĩ rằng tác phẩm của
mình là sự trộn lẫn màu sắc.
Tuy nhiên, Livingstone lại cho rằng Leonard không hiểu được
điều thú vị từ bức tranh của ông: "Ông ấy viết nhiều điều nhưng
không bao giờ viết điều này ra và cũng không vẽ lại một bức hoạ nào
như Mona Lisa. Tôi cho rằng ông cũng nhìn thấy điều tuyệt vời trong
nụ cười của Mona Lisa, nhưng cũng nhiều người, lại không thể phân
tích được tại sao nó lại như vậy".
7. CÁC HỌA SĨ TẠO ẢO GIÁC TRÊN TRANH NHƯ
THẾ NÀO?
Trong kiệt tác Ấn
tượng Mặt trời mọc của
Claude Monet, mặt trời
dường như hút hết sinh lực
của thiên nhiên để toả sáng
rực rỡ. Nhưng thực ra, độ
sáng của nó không hề lớn
hơn những điểm xám trên
Bức Ấn tượng mặt trời mọc của Claude nền trời xung quanh. Thì
Monet ra, Claude Monet đã khai
thác một đặc điểm thị giác
của mắt người để tạo nên ảo giác đó.
Nhà thần kinh học Margaret Livingstone, Đại học Y khoa Harvard
(Mỹ), đã công bố công trình nghiên cứu này tại cuộc họp thường niên
của Hiệp hội khoa học tiến bộ Mỹ, đang diễn ra tại Denver.
Livingstone đã sử dụng những kiệt tác hội hoạ để minh chứng cho
sự khác biệt giữa nhận thức về màu sắc và độ sáng của não người.
Trong một chuyến thăm tới Pais gần đây, bà có dịp kiểm tra bức tranh
Ấn tượng Mặt trời mọc vẽ bến cảng Le Harve của Monet. Tâm điểm
của bức tranh là hình ảnh mặt trời, xuất hiện như một quả cầu lửa
nhô lên trên nền trời mây mù xanh xám, phản chiếu ánh sáng xuống
mặt nước, nơi những con tàu đánh cá đang buông neo. Tuy nhiên,
trái với cảm nhận thông thường của chúng ta, Livingstone cho biết
mặt trời trên bức tranh không hề sáng hơn so với nền trời xanh xám
ở quanh đó.
Bà nói: "Lý do là hệ thống thị giác của chúng ta bị phân đôi rõ rệt:
Một bên cảm nhận về màu sắc và bên kia là về độ sáng (cường độ
phản xạ ánh sáng). Giữa chúng không hề có mối ràng buộc với nhau.
Khi đánh giá màu sắc bức tranh, não ta đã vô tình coi mặt trời như là
một loại cấp sáng và vì thế ta tưởng rằng mặt trời chói loá hơn hẳn
cảnh vật xung quanh".
Việc đánh giá sẽ công bằng hơn, nếu tất cả đều ở dạng đen trắng,
khi đó mọi vật thể có độ sáng như nhau đều xám cùng một cấp.
Livingstone đã chứng minh điều này bằng cách chụp lại ảnh đen trắng
của bức Ấn tượng Mặt trời mọc. Với bức ảnh đó, bằng mắt thường
mặt trời biến mất, nói đúng hơn là hoà vào màu xám của nền trời, do
nó có độ sáng bằng với độ sáng của nền trời xung quanh.
"Các hoạ sĩ thiên tài như Monet hiểu rõ hệ thống thị giác của con
người phân đôi như thế nào và đã khai thác nó một cách tinh tế để tạo
ra ảo giác về màu sắc và không gian". Livingstone giải thích. Hai phần
thị giác đó đôi khi còn được gọi là hệ thống "Where" (ở đâu) và
"What" (cái gì). Hệ thống "Where" tồn tại ở động vật có vú, cho phép
chúng ta có thể thấy được sự vật trong không gian 3 chiều, và nhận ra
những vật thể di động, nhưng không thấy màu sắc. Ngược lại, hệ
thống "What" chỉ tồn tại ở loài động vật bậc cao, trong đó có con
người, cho phép ta nhìn thấy màu sắc, phân biệt được các khuôn mặt
cũng như đánh giá mặt biểu hiện hoặc thái độ.
Cũng bằng thủ pháp
tạo hiệu ứng ảo giác,
Leonard de Vince đã khiến
cho nụ cười của nàng
Mona Lisa trở nên nhẹ
Nụ cười của Mona Lisa dưới các góc nhìn nhàng mà huyền bí.
Livingstone cho biết: khi
chăm chú nhìn vào đôi mắt
của Mona Lisa, bạn chỉ
"khoanh" được một khu
vực rất nhỏ bên lông mày và gò má. Vì vậy, bạn không nhìn thấy toàn
bộ khuôn mặt và không gian đằng sau bức tranh. Khi đó, các nét mờ
trên gò má Mona Lisa sẽ hiện lên khá rõ, khiến bạn có cảm giác khoé
môi của người phụ nữ này cũng được kéo nhếch lên và tô đậm hơn.
Kết quả, bạn thấy người phụ nữ cười. Ngược lại, khi bạn nhìn vào
miệng nàng thì hiệu ứng này cũng lập tức biến mất cùng với nụ cười
ấy. Thì ra nụ cười này vừa thật, vừa ảo. Có điều, khi sử dụng "mẹo" ảo
giác này, Leonard de Vince có lẽ đã không vận dụng đến kiến thức
khoa học mà dựa vào kinh nghiệm của một nghệ sĩ nhiều hơn.
khác nhau (chọn tâm điểm của bức tranh
khác nhau).
* "Mắt thần"
Bài nghiên cứu của Giáo sư Itzhk Fried, Đại học California (Mỹ)
đăng trên tạp chí khoa học The Lancet năm 1992 khẳng định: "Để
nhận biết hình ảnh, con người cần rất ít thực tế". Đây là một kết luận
thật khó hiểu. Để tìm hiểu xem Fried nói gì, một lần nữa, chúng ta lại
phải quay lại... với bức tranh Mona Lisa.
Fried cho mời 100 người đàn ông tới một cuộc thử nghiệm. Ông
chia họ làm hai nhóm. Nhóm thứ nhất được nhìn thấy bản sao của
Mona Lisa treo trên tường, còn nhóm thứ hai tới một căn phòng
trống trơn để nghe kể về bức tranh. Sau đó ông mời hai nhóm tới một
căn phòng khác và đề nghị họ miêu tả lại bức tranh. Trong khi những
người này miêu tả, Fried dùng một phương pháp đặc biệt để đo các
hoạt động trong não bộ của họ. Kết quả thật kỳ lạ: Não bộ của những
người này đều vận động các tế bào giống hệt nhau và "bức tranh" mà
họ kể lại khá giống nhau: Chúng đều là sản phẩm của rất ít thực tế và
rất nhiều tưởng tượng.
"Điều quan trọng không phải là chúng ta nhìn thấy bức tranh thật
hay chỉ ngồi tưởng tượng. Mỗi người đều có một con mắt thần – bộ
phận lưu giữ các hình ảnh tưởng tượng – giúp chúng ta có thể tổng
hợp hình ảnh và trình bày một khung cảnh nhất định", Fried nói.
* Thực tế và ảo giác
Tại sao bạn luôn có cảm giác rằng bạn có một bức tranh đầy đủ và
thực tế về cuộc sống hiện thực này? "Bởi vì rất hiếm khi bạn gặp được
ai đó chỉ cho thấy điều ngược lại!", các nhà
nghiên cứu hành vi giải thích.
Não bộ của bạn luôn được thu nạp và
xử lý một số hình ảnh mà mắt bạn "quét"
được từ thực tế, nhưng nó còn thu nhận
một khối lượng lớn hơn nhiều các hình ảnh
từ kho kinh nghiệm và trí tưởng tượng của
bạn. Mặt khác, việc não bộ của bạn lựa chọn
Ảo giác hoa Thủy Tiên "thực tế" nào là do trí tưởng tượng quyết
đ...
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
hế giới chúng ta đang sống quả thực vô cùng rộng lớn và
hàng ngày vẫn luôn xảy ra các sự kiện, hiện tượng mà chúng
ta chưa thể giải thích được bằng những hiểu biết hiện có. Trải
qua bao nhiêu thế kỷ với khả năng hiểu biết ngày càng mở
rộng, con người đã phần nào hiểu được thế giới tự nhiên xung
quanh mình. Nhưng tỉ lệ thuận với nó, những điều kỳ lạ không ít
hơn mà ngày càng nhiều, càng thách thức trí tuệ và kiến thức của
nhân loại.
T
Với mong muốn cung cấp cho bạn đọc những thông tin về các sự
kiện, hiện tượng kỳ bí đang diễn ra xung quanh cuộc sống của con
người, được giải thích trên cơ sở khoa học, Nhà xuất bản Từ Điển
Bách Khoa xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc cuốn "Bí ẩn của
nhân loại". Hy vọng cuốn sách sẽ là nguồn tài liệu bổ ích, hấp dẫn
đối với những bạn đọc.
NXB TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA
PHẦN 1:
CON NGƯỜI – THẾ GIỚI KỲ BÍ NHẤT
TRONG VŨ TRỤ
1. NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ CƠ THỂ CON
NGƯỜI
ơ thể con người là một trong những bộ máy kỳ diệu nhất.
Chúng ta biết rằng quả tim của mỗi người phải làm việc suốt
70-80 năm trời không một giây phút ngừng nghỉ, thì mới
thấy hết được sự kỳ diệu đó. Dù là chủ sở hữu, nhưng không
mấy ai trong chúng ta hiểu hết những gì đang xảy ra trong cơ thể
mình.
C
- Trong suốt một đời người, quả tim đập 3 tỷ lần và bơm 48 triệu
gallon máu.
- Mỗi ngày, máu thực hiện một cuộc hành trình dài 95.540km
trong cơ thể chúng ta.
- Bộ não trung bình của một người có 100 tỷ tế bào thần kinh.
- Các xung động thần kinh truyền đến não và từ não truyền đi với
vận tốc 274 km/giờ.
- Không bao giờ bạn có thể hắt hơi mà không phải nhắm mắt.
- Khi bạn hắt hơi, mọi chức năng của cơ thể đều ngưng hoạt động
kể cả trái tim.
- Dạ dày của bạn cần phải tạo ra một lớp màng nhầy mới cứ sau
hai tuần lễ, nếu không, nó sẽ tự "tiêu hoá" nó.
- Cần có sự tương tác của 72 cơ bắp khác nhau để tạo thành tiếng
nói của chúng ta.
- Tuổi thọ trung bình của mỗi chiếc gai lưỡi là 10 ngày.
- Tiếng ho văng ra khỏi miệng chúng ta với vận tốc 96 km/giờ.
- Đứa trẻ sinh ra không có xương bánh chè. Phải chờ khi chúng
được từ 2 đến 6 tuần tuổi thì bộ phận này mới xuất hiện.
- Chúng ta sinh ra với 300 khúc xương, khi trưởng thành, chỉ còn
206 khúc xương.
- Đứa trẻ lớn nhanh hơn vào mùa xuân so với các mùa khác.
- Trong suốt một đời người, phụ nữ chớp mắt nhiều gần gấp 2 lần
đàn ông.
- Một người nháy mắt trung bình 6.205.000 lần mỗi năm.
- Người còn một mắt chỉ bị mất khoảng 1,5 thị lực, nhưng mất
toàn bộ cảm giác về chiều sâu.
- Từ lúc sinh ra cho đến khi trưởng thành, mắt của chúng ta vẫn
không thay đổi, trong khi đó, tai và mũi không ngừng phát triển cho
đến lúc cuối đời.
- Trung bình một đời người, chúng ta đi bộ trên một quãng
đường dài bằng 5 lần đường xích đạo.
- Da đầu mỗi người trung bình chứa 100.000 sợi tóc.
- Hộp sọ con người được cấu tạo bởi 29 mảnh xương khác nhau.
- Tốc độ mọc dài ra của móng tay tương ứng với chiều dài ngón
tay. Móng tay của ngón giữa mọc nhanh nhất. Móng tay mọc nhanh
gấp đôi móng chân.
- Tóc và móng tay có cùng một chất liệu cấu tạo như nhau.
- Khi con người chết đi, cơ thể khô lại, tạo ảo giác là móng tay và
tóc còn tiếp tục mọc thêm sau khi chết.
- Diện tích bề mặt ruột là 200 m2.
- Diện tích bề mặt da người là 2 m2.
- Một người trung bình bị thay đi hơn 18 kg da trong một đời
người.
- Cứ mỗi giây đi qua, có 15 triệu tế bào máu bị tiêu huỷ trong cơ
thể.
- Mỗi năm qua đi, có khoảng 98% nguyên tử trong cơ thể bị thay
thế.
- Quả tim con người tạo ra một áp suất đủ để đẩy máu đi xa 9 m.
- Xương đùi của con người cứng hơn bê tông.
- Dưới lớp da mỗi người có 72 km dây thần kinh.
- Mỗi 2,5 cm2 da người chứa 6 m mạch máu.
- Cứ 24 giờ, một người trung bình thở 23.040 lần.
2. BÍ MẬT CỦA HIỆN TƯỢNG SIÊU TRÍ NHỚ
Năm 20 tuổi, cô gái Elina Markand (người Đức) bị tai nạn. Khi
tỉnh dậy, Elina bỗng nói tiếng Italy rất thông thạo, mặc dù trước đó
cô chưa từng học một ngoại ngữ nào. Cô còn tự nhận mình là
Rozetta Caste Liani, công dân Italy và được yêu cầu được trở về
thăm quê hương.
Về tới “ nhà", Elina mới biết
rằng người có tên là Rozetta
Caste đã mất từ năm 1917. Đón
cô là một bà già lụ khụ, xưng là
con gái của Rozetta Caste. Elina
chỉ tay vào bà già, nói: "Đây là
Fransa, con gái tôi!". Lúc ấy, tất
cả mọi người đều giật mình, vì
“Mysytic” tranh của Liisa Rahkonen người đàn bà quả thực tên là
Fransa, đúng như Elina gọi.
Câu chuyện của Elina Markand đã trở thành đề tài đầy hấp dẫn
cho khoa học. Thực tế, trong lịch sử từng có không ít trường hợp
tương tự và hiện tượng "nhớ về quá khứ" không nhất thiết phải bắt
đầu từ một chấn thương nào đó, như trường hợp của Elina Markand.
Vào thập niên trước, một cô gái nhỏ người Anh đã biến thành
"một người xa lạ" sau khi thức dậy vào một buổi sáng. Em không
nhận ra mẹ và người thân của mình, không nói được tiếng mẹ đẻ
trong khi lại thông thạo tiếng Tây Ban Nha và lúc nào cũng tỏ ra sợ
sệt.
Các bác sĩ đều có kết luận giống nhau: Em bé 10 tuổi này không có
biểu hiện gì về bệnh lý hoặc tâm thần, sức khoẻ tốt. Em nhận mình là
người Tây Ban Nha và sống ở thành phố Toledo. Em kể lại rằng một
người cùng phố do ghen ghét và đố kỵ đã đâm chết em năm em 22
tuổi. Cảnh sát Tây Ban Nha đã thẩm tra lại câu chuyện kỳ quặc về
"tiền kiếp" của em và kết luận, đúng như lời em kể. Ở số nhà đó trong
thành phố Toledo từng có một cô gái 22 tuổi bị hãm hại. Những
người hàng xóm đã tìm thấy xác cô ngay trong nhà. Câu chuyện càng
sáng tỏ hơn khi hung thủ (lúc này đã già) tự đến gặp cảnh sát để thú
tội.
Các nhà khoa học còn tiếp tục ghi nhận nhiều trường hợp khác.
Chẳng hạn có một người đột nhiên "biến thành” công dân La Mã cổ
đại, với bằng chứng khó chối cãi là anh ta biết sử dụng thứ ngôn ngữ
"nguyên thuỷ" của mình, mà không còn ai hiểu được. Tương tự như
vậy, có người châu Âu bỗng nói tiếng Ai Cập, mất hẳn khả năng nói
tiếng mẹ đẻ. Rồi anh ta mô tả chính xác cảnh vật ở sông Nile và tự
nhận có nguồn gốc Ai Cập.
* "Trí nhớ gene"
Một số nhà khoa học đã thử đưa ra một lý thuyết giải thích hiện
tượng trên với khái niệm "trí nhớ gene": Nếu các vùng "ngủ" trong
ADN bị kích thích, con người có thể trở về tiền kiếp". Họ bỗng nhớ lại
nguồn gốc La Mã hoặc Ai Cập từ xã xưa. Cũng do ảnh hưởng bởi tiền
kiếp mà nhiều người có thói quen xoa râu quai nón, mặc dù trên mặt
không hề có râu. Người khác lại có thói quen nhấc vạt áo vét, y như
động tác vén váy dài đang mặc khi vượt qua vũng nước của phụ nữ.
Như ở cô Elina người Đức và bé gái người Anh thì rõ ràng không
hề có quan hệ nào về "gene di truyền" với người mà mình hoá thân,
có nghĩa là trường hợp của họ không thể giải thích bằng "trí nhớ
gene". Vậy nghĩa là thế nào? Những người theo đạo phật rất quen
thuộc với thuyết luân hồi cho rằng thể xác con người – tức là cái "bề
ngoài" – luôn thay đổi. Còn cái "bên trong thể xác" – tức linh hồn – là
vĩnh cửu. Theo thuyết luân hồi, cuộc sống không khởi đầu bằng sự
sinh ra và cũng không kết thúc bằng sự mất đi. Cuộc sống cứ trôi vô
tận. Linh hồn ở mỗi "kiếp" lại nhập vào một thân xác mới. Vì thế, sẽ
không lạ khi cô Elina và bé gái người Anh đột nhiên nhớ lại kiếp
trước của mình.
* Thuyết về kết cấu "phách"
Lại có một số nhà vật lý và sinh học đưa ra cách giải thích vấn đề
trên bằng "kết cấu phách". "Phách" ở đây tất nhiên không phải là
"phách" trong âm nhạc, mà là một khái niệm chỉ "phần bất biến" của
con người, còn được hiểu là "phần năng lượng tách ra dưới dạng
sóng". Khi người chết, "phách" liền tan vào vũ trụ. Vì thế, "phách" có
thể hiểu là một loại "trường sóng hạt cơ bản nhẹ, hoặc là "tập hợp
những năng lượng thông tin cá thể".
Theo các nhà khoa học này, thuyết về phách có thể lý giải được
như đa phần hiện tượng thần đồng (trong âm nhạc, thi ca, khoa
học...). Ở tuổi rất trẻ, những thần đồng này đã tích tụ được lượng
kiến thức khổng lồ mà người bình thường cả đời dù học tập chăm chỉ
cũng khó có được. Theo thuyết này, "phách" của các thiên tài là sản
phẩm của hàng vạn kiếp trong quá khứ dồn lại trong một cơ thể hiện
hữu. Nói cách khác, "trường sóng hạt cơ bản nhẹ" hay những "tập
hợp thông tin cá thể" đã tập trung vào cơ thể họ theo một quy luật
nào đó.
Nhiều nhà khoa học đã mạnh dạn đề cập tới những khái niệm rất
mới về hiện tượng "nhớ về quá khứ". Họ đã lập ra một quy trình công
nghệ" cho phép bằng thực nghiệm đưa con người vào trạng thái giữa
mơ và thực. Ở trạng thái lơ lửng kỳ ảo này, người tham gia thực
nghiệm vẫn nhìn thấy những gì quanh mình, nhưng trong tiềm thức,
họ lại thấy cả quá khứ. Phương pháp thực nghiệm này đã được áp
dụng để chữa một số bệnh tâm thần và đem lại kết quả.
Mặc dù đã có những thành tựu nhất định, nhưng đến nay, những
chuyện về "siêu trí nhớ" gần như vẫn nằm ngoài vòng nghiên cứu của
khoa học chính thống. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là nhân loại
chịu bỏ cuộc để rơi tự do vào vòng "bất khả tri", các nhà khoa học vẫn
đang tìm cách để nghiên cứu những điều khó giải thích nhất.
3. NGỦ LỊM HÀNG CHỤC NĂM – MỘT HIỆN
TƯỢNG CHƯA ĐƯỢC GIẢI THÍCH
Do bị tưởng nhầm là đã chết, cô bé Nazira Rustemova (4 tuổi,
người Kazakstan) từng bị chôn sống. Được đưa ra khỏi mộ, Nazira
chìm vào một giấc ngủ dài 16 năm rồi mới đây bỗng nhiên tỉnh giấc.
Cơ thể của cô (vốn thay đổi rất ít trong thời gian hôn mê) bỗng lớn
lên từng ngày để nhanh chóng trở thành cơ thể một thiếu nữ trưởng
thành.
Đó là một trong những trường hợp mắc chứng hôn thuỵ, cho đến
nay vẫn là một bí ẩn đối với khoa học. Những người bị chứng hôn
thuỵ có thể ngủ hàng tháng trời, thậm chí vài chục năm. Trong thời
gian đó, cơ thể họ hầu như không có sự thay đổi. Sau khi tỉnh giấc,
quá trình trao đổi chất được tăng tốc khiến cho cơ thể lớn nhanh
trông thấy, y như trong truyện cổ tích. Ở một số bệnh nhân còn xuất
hiện nhiều khả năng kỳ lạ mà trước khi hôn mê họ chưa hề có. Nazira
Rustemova là một trường hợp điển hình.
Lúc mới sinh, Nazira là một cô bé khoẻ mạnh, cơ thể phát triển
bình thường như bao đứa trẻ khác. Gần đến sinh nhật lần thứ 4, đột
nhiên cô bé bị đau đầu dữ dội, không thuốc nào làm giảm được. Sau
mỗi cơn đau, cô bé lại lịm đi. Một buổi sáng, khi vào đánh thức con,
cha mẹ của Nazira thấy cô bé nằm bất động trên giường. Các bác sĩ ở
bệnh viện huyện khẳng định Nazira đã chết mà không rõ nguyên
nhân.
Sau khi mai táng cho Nazira, ông và bố cô bé nằm mộng thấy có
người bảo rằng Nazira chưa chết mã đã bị chôn sống. Người cha trở
lại nghĩa địa, lật ván áo quan lên để kiểm tra. Ông sửng sốt nhận thấy
xác con gái đã nằm sát vào một góc chứ không ở vị trí chính giữa như
lúc hạ huyệt. Lớp vải liệm quấn quanh cô bé bị nhàu và đôi chỗ có vết
cào xước. Ông vội vàng bế con về nhà.
Hai tuần liền. Gia đình Nazira tìm mọi cách để đánh thức cô bé
nhưng vô hiệu. Khi biết tin, Bộ Y tế Liên Xô đã chuyển Nazira lên
Matxcơva để nghiên cứu. Cô bé được đặt trong lồng kính suốt 16 năm
cho đến ngày tỉnh lại.
"Suốt thời gian đó, tôi không hề ngồi dậy lần nào" – Nazira nhớ
lại – "Mặc dù nằm bất động nhưng tôi vẫn nhận biết được mọi
chuyện xảy ra xung quanh mình. Thậm chí có lần tôi còn ngửi thấy
hương thơm thoang thoảng đặc trưng của vùng thảo nguyên quê tôi.
Một hôm, tôi nghe thấy tiếng chuông điện thoại réo rất lâu. Mãi mà
không có ai nhấc máy; thế là tôi quyết định đứng dậy để nói chuyện
điện thoại..." Sau khi tỉnh giấc, Nazira được các bác sĩ giữ lại để tiếp
tục kiểm tra sức khoẻ trong mấy tháng rồi mới trở về nhà.
Trong 16 năm ngủ lịm, người Nazira chỉ dài thêm 30 cm mặc dù
vẫn tiếp nhận thức ăn qua hệ thống ống dẫn nối với dạ dày. Tuy
nhiên, khi tỉnh lại, cơ thể cô phát triển nhanh như thổi. Chỉ trong một
thời gian rất ngắn từ một cô bé, Nazira đã có một cơ thể phát triển
như mọi cô gái 20 tuổi khác.
Trong mấy ngày đầu, Nazira đã phục hồi khả năng khẩu ngữ, có
thể giao tiếp với mọi người mà không quên từ nào. Thậm chí, cô còn
nói được 4 ngoại ngữ, trong đó có tiếng Latinh (một ngôn ngữ hiện
nay rất ít người biết) và tự nhấc mình khỏi mặt đất nhẹ nhàng như
bay. Tuy nhiên, sau đó mấy năm, những khả năng này biến mất.
Nazira quên cả tiếng mẹ đẻ (tiếng Kazakstan), chỉ còn nhớ duy nhất
tiếng Nga.
4. HIỆN TƯỢNG "NGƯỜI LƠ LỬNG"
"Quá trưa, Subbayah Pullivar ra chào chúng tôi và cho biết đã
thực hành yoga được gần 20 năm.
Khi nghi lễ lơ lửng bắt đầu,
nhà yoga Ấn Độ này đi vào một cái
lều. Vài phút sau, vách lều được
nâng lên, cho thấy ông đang lơ
lửng giữa vòng tròn nước". Đó là
lời kể của P.Y.Plunkett, một người
bạn tận mắt chứng kiến màn biểu
Lơ lửng không phải là không thể diễn ngày 6/6/1936.
Nhiều khán giả đến gần kiểm tra để xem có sự gian dối nào
không. Subbayah Pullivar như trong trạng thái lên đồng, lơ lửng trên
không, cách mặt đất khoảng 1 mét. Ông dựa vào một cây gậy, hẳn là
chỉ để giữ thăng bằng, Plunkett và bạn bè đến kiểm tra xung quanh
nhà yoga: chẳng có dây hay trò ma mãnh nào cả.
Sau đó, cái lều được phủ xuống và Pullivar hạ xuống đất. Plunkett
chứng kiến sự hạ xuống này qua một cái khe trên vách lều mỏng. “Sau
một phút, nhà yoga có vẻ lắc lư. Ông bắt đầu hạ xuống từ từ, vẫn
trong tư thế nằm ngang như lúc đầu. Phải mất 5 phút để chạm xuống
đất. Lúc ấy, các đệ tử đưa ông ra giữa khán giả, yêu cầu mọi người
thử bẻ tay bẻ chân ông. Nhưng dù có nhiều người, chúng tôi vẫn
không thể làm được. Subbayay Pullivar được xoa bóp bằng nước lạnh
hơn 5 phút sau khi rời khỏi trạng thái lơ lửng và lại cử động tay chân
bình thường”.
Trong nhiều trường hợp lơ lửng khác, khán giả chú ý đến chuyển
động lắc lư và tư thế nằm ngang. Cảnh tượng diễn ra tại Thuỵ Sĩ, ở
trường của nhà yoga Maharishi Mahesh, một học viên môn thiền siêu
việt học kể lại: "Chúng tôi lắc lư, lúc đầu chậm, sau nhanh dần. Kế đó,
chúng tôi bắt đầu nhấc mình lên khỏi mặt đất. Phải thực hành bài tập
trong tư thế ngồi xếp bằng. Người ta sẽ bị đau đớn nếu để hai chân
buông thõng. Lúc hạ xuống là một cú sốc. Vì thế cần phải ngồi trên
nệm. Sau đó chúng tôi biết cách kiểm soát và bài tập trở nên thật
thích thú".
Liệu một ngày nào đó tất cả mọi người đều có thể biết lơ lửng
không? Theo những người học thiền siêu việt, điều đó là có thể, với
điều kiện phải rèn luyện tinh thần rất tích cực.
* Trạng thái bán trọng lực
Cũng có một cách lơ lửng đang được bàn cãi, là đặt một người
trong trạng thái bán trọng lực. Người ấy ngồi trên ghế, xung quanh là
4 người thí nghiệm. Bốn người này xếp hai bàn tay trên đầu người kia
(nhưng không chạm nhau), rồi tập trung tư tưởng trong 15 giây. Sau
đó, họ nhanh chóng đặt ngón trỏ lên khuỷu tay và đầu gối của những
người ngồi trên ghế. Thế là người ấy được nâng khỏi mặt đất. Làm
sao có thể giải thích được hiện tượng đó? Sự tập trung tư tưởng của 4
người có dự tính chính xác liệu có thể giải phóng một sức mạnh bí ẩn
của nghị lực, giúp thoát khỏi các định luật của trọng trường không?
Nhiều câu hỏi chưa có lời giải thích thỏa mãn.
Bennett là nhà sư. Ông nhẹ nhàng đến mức có thể tự mình nâng
lên như một chiếc lá, tựa như đã thoát khỏi trọng lực. Tuy nhiên, hiện
tượng lơ lửng dường như không cao được bao nhiêu: đối tượng
thường chỉ lên được 1 - 2 m là tối đa. Nhưng biết đâu các dân tộc thời
cổ đại đã có "chìa khoá" cho khả năng bay bổng cao hơn. Như thế, họ
có thể thực hiện những công trình vĩ đại, chẳng hạn như các hình vẽ
trong sa mạc Nazca ở Peru mà người ta chỉ có thể thấy rõ từ trên cao.
Nhiều truyền thuyết của người Celte cũng kể về các pháp sư có khả
năng bay được. Phải chăng đó là sự hoá thân của linh hồn, hay là sự
lơ lửng thật sự của cơ thể.
Trong nhiều trường hợp ngoại lệ, sự lơ lửng dường như có liên
quan đến một trạng thái đặc biệt, tiếp thu được sau một quá trình
luyện tập lâu dài. Lúc ấy, cơ thể bất chấp các định luật hấp dẫn thông
thường nhờ một sức mạnh bí ẩn. Năm 1657, một thiếu niên Anh 12
tuổi, Henry Jones, bỗng dưng bay lên đến trần nhà, đặt hai bàn tay
lên trần. Hiện tượng này chỉ kéo dài trong 1 năm, và sau này cậu ta
mất khả năng đó.
5. NGƯỜI HOÁ SÁP MỠ VÀ CÁI CHẾT BÍ ẨN
Ngày 27/9, tại bảo tàng Mutter,
Philadelphia, Mỹ, người ta đã tiến
hành chụp cắt lớp một thi thể kỳ lạ:
xác ướp của một phụ nữ mập mạp
đã biến đổi gần như hoàn toàn
thành chất sáp mỡ. Người đàn bà
này là ai? Bà ta mất vào thế kỷ
XVII, XVIII hay XIX? Vì sao thân
thể bà ta lại có thể hoá sáp?... Các
nhà khoa học hy vọng sớm có câu
trả lời từ thiết bị quét mới, máy
Thí nghiệm chụp cắt lớp thi hài scan CT.
Thi hài người phụ nữ này, với biệt danh "Soap Lady", đã nằm
trong tủ kính của bảo tàng Mutter hơn một thế kỷ. Thời gian qua bà
luôn là mẫu thực nghiệm lý tưởng cho các sinh viên y khoa và bây giờ
xác bà đang hấp dẫn du khách như một trường hợp lý thú trong y
học.
Bằng máy chụp CT, các nhà khoa học đã quan sát thấy một số mô
nội tạng. Họ hy vọng sẽ trả lời được nghi vấn lâu nay: Bà ấy chết như
thế nào? Gerald Conlogue, Giáo sư Đại học Quinnipac và các cộng sự
đang tìm kiếm một miếng vỏ quan tài được làm từ thứ chất xà phòng
này bị rơi ra ngoài môi trường. Từ đó, họ sẽ hiểu rõ hơn về sự xà
phòng hoá - hiện tượng chuyển hoá chất béo thành chất sáp mỡ.
Trong tự nhiên, trường hợp này rất hiếm gặp vì quá trình xà phòng
hoá phụ thuộc vào nhiều nhân tố, như độ ẩm, nhiệt độ, quần áo và
hoạt động của vi khuẩn. Người càng béo, khả năng bị xà phòng hoá
càng lớn.
* Đi tìm tung tích Soap Lady
Lần thí nghiệm chụp cắt lớp là lần đầu tiên Soap Lady được đưa
khỏi bàn trưng bày, kể từ năm 1874. Một nhà giải phẫu nổi tiếng của
Đại học Pennsylvania, Joseph Leidy, đã tặng thi hài này cho bảo tàng.
Leidy khẳng định Soap Lady mất vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Theo
mẩu chú thích gắn kèm với giá trưng bày, "Người đàn bà này, có tên
Ellenbogen, đã mất năm 1792 tại Philadenlphia vì bệnh sốt vàng và
được chôn gần đường Fourth và Race".
Nhưng, lời giải thích của Leidy chỉ đứng vững tới năm 1942, khi
Tiến sĩ Joseph McFarland, người quản lý bảo tàng đã xác định Soap
Lady mất vào thế kỷ XVIII và tên của bà đã bị quá khứ lãng quên.
Theo ông, không có ai qua đời vì bệnh sốt vàng ở Philadenphia vào
năm 1792. Chỉ có một trường hợp xảy ra vào 1793, nhưng tên không
phải là "Ellenbogen". Hơn thế, chưa hề có một nghĩa địa gần đường
Fourth và Race.
Năm 1987, người ta đã chụp tia X trên xác ướp này và phát hiện
thấy có 2 cái ghim thẳng và 2 chiếc khuy 4 lỗ được sản xuất vào thế kỷ
XIX. Một quan chức bảo tàng nói: "Đến đây, tung tích của người đàn
bà này lại càng mờ mịt hơn".
6. BÍ MẬT VỀ HIỆN TƯỢNG ẢO GIÁC
Một lần, bạn đang trả lời một người hỏi đường, thì đột nhiên,
hai người lạ mặt khênh một cánh cửa đặt giữa bạn và vị khách. Bạn
hơi ngạc nhiên một chút, nhưng sau đó
hai kẻ bất lịch sự kia đã vội vã khênh cửa
đi. Sau đó, bạn vẫn tiếp tục nói mà không
nhận thấy một điều kỳ lạ đã xảy ra...
Người khách hỏi: "Chị thấy gì lạ
không?". Bạn nhăn trán... hình như bạn
cảm thấy có gì đó khác lạ nhưng lại không
hiểu là gì. Người khách lại hỏi: "Chị thử
nhìn tôi kỹ hơn xem nào!" Bạn nhìn rất
sâu vào mắt người khách, rồi bạn để ý tới
giọng anh ta nói, tới áo quần anh ta mặc... Hồi lâu... “A!” Bạn bỗng
hét lên. Đứng trước mặt bạn là một người đàn ông hoàn toàn khác
chứ không phải người đã hỏi đường bạn... Một lúc sau, người lạ mặt
này giải thích cho bạn biết rằng, anh ta là một trong hai người đàn
ông khênh cánh cửa và đã tráo đổi vị trí với người khách hỏi đường
trong thời gian ngắn ngủi khi họ dừng lại giữa hai người...
Trên đây là một ví dụ tiêu biểu về hiện tượng ảo giác, một hiện
tượng kỳ lạ và khó hiểu nhất thường gặp trong thực tế. Người làm thí
nghiệm này là Giáo sư Daniel Simons, Đại học Havard, Mỹ. Ông đã
tiến hành thí nghiệm này trên hàng trăm trường hợp khác nhau và
kết quả thật kỳ lạ: Trên 50% các trường hợp, người chỉ đường vẫn
tiếp tục nói chuyện với vị khách hỏi đường đã bị đánh tráo mà không
nhận ra điều gì lạ, mặc dù hai nhân vật này hoàn toàn khác nhau, từ
hình dáng, giọng nói tới quần áo.
* Nhận biết có lựa chọn
Hiện tượng trên còn có tên khoa học là "mù thoáng qua" (changeblindness). Cùng với các kết quả thí nghiệm khác, đầu những năm 90,
hiện tượng này dẫn tới một giả thuyết gây ra nhiều cuộc tranh luận
dữ dội: Cái chúng ta thực sự nhìn thấy ít hơn nhiều so với cái chúng
ta tưởng rằng đã nhìn thấy. Điều đó có nghĩa là, chúng ta luôn sống
trong ảo giác bởi niềm tin được tạo ra. Trong thí nghiệm trên, người
chỉ đường luôn tin rằng mình đang nói chuyện với cùng một người
hỏi đường, nên hoàn toàn không nhận thấy anh ta có sự thay đổi gì
sau khi đã bị đánh tráo.
Ông Simons giải thích: "Nếu bạn quan sát một khung cảnh với
những hiện tượng xảy ra trong đó, thường bạn chỉ có thể nhận biết
một số chi tiết nhất định. Những chi tiết này sẽ được bổ sung thêm
nhờ khả năng nhớ lại hoặc trí tưởng tượng của bạn, để cho ra một
hình ảnh tổng quát về cái mà bạn đã nhìn được và ghi lại trong não
bộ".
* Mắt có vai trò như một ống kính
Trong hệ thống ghi chép và lưu giữ hình ảnh, mắt đóng vai trò
như một ống kính video. Nó liên tục quét các hình ảnh để đưa vào
trung tâm xử lý của não bộ. Tại đây, hình ảnh sẽ được phân tích rất
nhanh. Thông tin không quan trọng sẽ bị loại bỏ và chỉ có những chi
tiết quan trọng nhất giúp con người ứng xử trong hoàn cảnh nhất
định mới được giữ lại trong não bộ.
"Nhờ việc lựa chọn giữa những chi tiết quan trọng và không quan
trọng nên con người mới có thể tồn tại được", Triết gia Danial
Dennett đã khẳng định như vậy trong một cuốn sách có tiêu đề "Kiến
giải về ý thức". Theo đó, hình ảnh lưu trữ trong bộ não lâu ngày đã
chiếm quá nhiều bộ nhớ nên nó chỉ ghi lại những gì đã thay đổi và giả
định rằng, tất cả những thứ khác vẫn giữ nguyên như vậy.
* Chuyện về một con vượn chạy qua...
Daniel Simons lại tiếp tục làm một thí nghiệm nữa để chứng minh
rằng, thực tế chúng ta luôn bỏ sót những chi tiết nhất định. Ông cho
mời 40 người đàn ông tới xem một trận bóng rổ và yêu cầu họ đếm
tất cả các đường chuyền của hai đội. Những người đàn ông đều tập
trung hết sức vào các pha chuyền bóng. Đột nhiên xuất hiện một con
vượn chạy đi chạy lại qua sân bóng đến 5 giây đồng hồ. Sau đó,
Simons đã hỏi tất cả 40 người đàn ông này về con vượn và họ đều trả
lời là không nhìn thấy gì cả.
"Thường thì người ta không bao giờ nhìn thấy rừng xanh giữa
đám cây cối rậm rạp", Simons nói. Điều đó đôi khi rất nguy hiểm. Các
chuyên gia nghiên cứu giao thông cho biết, phần lớn các tai nạn ôtô
đều có liên quan tới hiện tượng "mù thoáng qua". Trong thí nghiệm
trên, những người đàn ông chúi mắt vào các quả bóng có thể so sánh
với người tài xế đang lái xe chạy trên đường và mải mê nghĩ về một
chuyện gì đó, còn con vượn giống như người qua đường. Thế là xảy
ra tai nạn.
* Giải mã nụ cười của nàng Mona Lisa
Nụ cười của Mona Lisa
cũng gây ảo giác. Càng nhìn lâu
vào khuôn mặt nàng, bạn càng
thấy đôi mắt ấy đang cười, rất
kiêu sa và rất mãn nguyện.
Nhưng chỉ cần nhìn xuống khoé
miệng một chút bạn sẽ thấy
khuôn mặt người thiếu nữ
Mona Lisa, nỗi buồn ẩn dưới nụ cười nghiêm nghị kỳ lạ. Đột nhiên,
bạn không hiểu nàng đang vui
hay buồn, thanh thản hay lo lắng.
Trong phần trước chúng ta đã đề cập tới hiện tượng "mù thoáng
qua", giải thích vì sao đôi mắt thường bỏ sót một số chi tiết nhất định
khi ta quan sát một khung cảnh nào đó. Hoạ sĩ, triết gia, nhà khoa học
thiên tài người Italia Leonard de Vince đã "vô tình" lợi dụng hiện
tượng này để sáng tạo ra nụ cười bí hiểm có một không hai trên khoé
miệng Mona Lisa.
"Điều khiến chúng ta yêu thích Mona Lisa
chính là bộ mặt cô ấy luôn thay đổi mỗi khi
chúng ta nhìn, khiến cho cô ấy dường như
sống động", Margaret Livingstone, nhà sinh
học – thần kinh học tại Đại học Harvard (Mỹ)
nhận xét như vậy, sau mỗi thời gian nghiên
cứu hoạ phẩm nổi tiếng của Leonardo de
Vince.
Tuy nhiên, bà cho rằng thực tế bộ mặt
Mona Lisa Mona Lisa không đổi, bản chất chính là sự thay
đổi trong mắt người xem chứ không phải ở
màu sơn. Theo bà, thị giác trung tâm của con
người bắt giữ những chi tiết nhỏ rất tốt, trong khi thị giác ngoại biên
chỉ xử lý những chi tiết lờ mờ gọi là tần số không gian thấp. Nhưng
nụ cười của Mona Lisa lại được vẽ bằng tông màu êm dịu, rơi vào tần
số thấp. Livingstone nói: "Bạn không thể nhìn nụ cười này bằng thị
giác trung tâm mà phải bằng thị giác ngoại biên khi nhìn từ miệng của
Mona Lisa".
Hiệu quả tương tự được quan sát trên những tác phẩm cuối thế
kỷ XIX của những người theo kỹ thuật chấm màu (pointillist), cũng
như trên các bức hoạ chân dung hiện đại của Chuck Close và tranh
ghép mảnh của Robert Silvers (thường dùng trong quảng cáo).
Livingstone nhận xét: "Mỗi khi nhìn, bạn nhìn những chấm riêng rẽ,
nhưng thị giác ngoại biên thì tập hợp chúng lại với nhau và trộn lẫn
màu sắc, vì thế bạn chuyển động mắt xung quanh và tạo ra những
thay đổi trong khi nhìn". Cách giải thích này có lẽ làm ngạc nhiên
những hoạ sĩ của kĩ thuật chấm màu, bởi họ nghĩ rằng tác phẩm của
mình là sự trộn lẫn màu sắc.
Tuy nhiên, Livingstone lại cho rằng Leonard không hiểu được
điều thú vị từ bức tranh của ông: "Ông ấy viết nhiều điều nhưng
không bao giờ viết điều này ra và cũng không vẽ lại một bức hoạ nào
như Mona Lisa. Tôi cho rằng ông cũng nhìn thấy điều tuyệt vời trong
nụ cười của Mona Lisa, nhưng cũng nhiều người, lại không thể phân
tích được tại sao nó lại như vậy".
7. CÁC HỌA SĨ TẠO ẢO GIÁC TRÊN TRANH NHƯ
THẾ NÀO?
Trong kiệt tác Ấn
tượng Mặt trời mọc của
Claude Monet, mặt trời
dường như hút hết sinh lực
của thiên nhiên để toả sáng
rực rỡ. Nhưng thực ra, độ
sáng của nó không hề lớn
hơn những điểm xám trên
Bức Ấn tượng mặt trời mọc của Claude nền trời xung quanh. Thì
Monet ra, Claude Monet đã khai
thác một đặc điểm thị giác
của mắt người để tạo nên ảo giác đó.
Nhà thần kinh học Margaret Livingstone, Đại học Y khoa Harvard
(Mỹ), đã công bố công trình nghiên cứu này tại cuộc họp thường niên
của Hiệp hội khoa học tiến bộ Mỹ, đang diễn ra tại Denver.
Livingstone đã sử dụng những kiệt tác hội hoạ để minh chứng cho
sự khác biệt giữa nhận thức về màu sắc và độ sáng của não người.
Trong một chuyến thăm tới Pais gần đây, bà có dịp kiểm tra bức tranh
Ấn tượng Mặt trời mọc vẽ bến cảng Le Harve của Monet. Tâm điểm
của bức tranh là hình ảnh mặt trời, xuất hiện như một quả cầu lửa
nhô lên trên nền trời mây mù xanh xám, phản chiếu ánh sáng xuống
mặt nước, nơi những con tàu đánh cá đang buông neo. Tuy nhiên,
trái với cảm nhận thông thường của chúng ta, Livingstone cho biết
mặt trời trên bức tranh không hề sáng hơn so với nền trời xanh xám
ở quanh đó.
Bà nói: "Lý do là hệ thống thị giác của chúng ta bị phân đôi rõ rệt:
Một bên cảm nhận về màu sắc và bên kia là về độ sáng (cường độ
phản xạ ánh sáng). Giữa chúng không hề có mối ràng buộc với nhau.
Khi đánh giá màu sắc bức tranh, não ta đã vô tình coi mặt trời như là
một loại cấp sáng và vì thế ta tưởng rằng mặt trời chói loá hơn hẳn
cảnh vật xung quanh".
Việc đánh giá sẽ công bằng hơn, nếu tất cả đều ở dạng đen trắng,
khi đó mọi vật thể có độ sáng như nhau đều xám cùng một cấp.
Livingstone đã chứng minh điều này bằng cách chụp lại ảnh đen trắng
của bức Ấn tượng Mặt trời mọc. Với bức ảnh đó, bằng mắt thường
mặt trời biến mất, nói đúng hơn là hoà vào màu xám của nền trời, do
nó có độ sáng bằng với độ sáng của nền trời xung quanh.
"Các hoạ sĩ thiên tài như Monet hiểu rõ hệ thống thị giác của con
người phân đôi như thế nào và đã khai thác nó một cách tinh tế để tạo
ra ảo giác về màu sắc và không gian". Livingstone giải thích. Hai phần
thị giác đó đôi khi còn được gọi là hệ thống "Where" (ở đâu) và
"What" (cái gì). Hệ thống "Where" tồn tại ở động vật có vú, cho phép
chúng ta có thể thấy được sự vật trong không gian 3 chiều, và nhận ra
những vật thể di động, nhưng không thấy màu sắc. Ngược lại, hệ
thống "What" chỉ tồn tại ở loài động vật bậc cao, trong đó có con
người, cho phép ta nhìn thấy màu sắc, phân biệt được các khuôn mặt
cũng như đánh giá mặt biểu hiện hoặc thái độ.
Cũng bằng thủ pháp
tạo hiệu ứng ảo giác,
Leonard de Vince đã khiến
cho nụ cười của nàng
Mona Lisa trở nên nhẹ
Nụ cười của Mona Lisa dưới các góc nhìn nhàng mà huyền bí.
Livingstone cho biết: khi
chăm chú nhìn vào đôi mắt
của Mona Lisa, bạn chỉ
"khoanh" được một khu
vực rất nhỏ bên lông mày và gò má. Vì vậy, bạn không nhìn thấy toàn
bộ khuôn mặt và không gian đằng sau bức tranh. Khi đó, các nét mờ
trên gò má Mona Lisa sẽ hiện lên khá rõ, khiến bạn có cảm giác khoé
môi của người phụ nữ này cũng được kéo nhếch lên và tô đậm hơn.
Kết quả, bạn thấy người phụ nữ cười. Ngược lại, khi bạn nhìn vào
miệng nàng thì hiệu ứng này cũng lập tức biến mất cùng với nụ cười
ấy. Thì ra nụ cười này vừa thật, vừa ảo. Có điều, khi sử dụng "mẹo" ảo
giác này, Leonard de Vince có lẽ đã không vận dụng đến kiến thức
khoa học mà dựa vào kinh nghiệm của một nghệ sĩ nhiều hơn.
khác nhau (chọn tâm điểm của bức tranh
khác nhau).
* "Mắt thần"
Bài nghiên cứu của Giáo sư Itzhk Fried, Đại học California (Mỹ)
đăng trên tạp chí khoa học The Lancet năm 1992 khẳng định: "Để
nhận biết hình ảnh, con người cần rất ít thực tế". Đây là một kết luận
thật khó hiểu. Để tìm hiểu xem Fried nói gì, một lần nữa, chúng ta lại
phải quay lại... với bức tranh Mona Lisa.
Fried cho mời 100 người đàn ông tới một cuộc thử nghiệm. Ông
chia họ làm hai nhóm. Nhóm thứ nhất được nhìn thấy bản sao của
Mona Lisa treo trên tường, còn nhóm thứ hai tới một căn phòng
trống trơn để nghe kể về bức tranh. Sau đó ông mời hai nhóm tới một
căn phòng khác và đề nghị họ miêu tả lại bức tranh. Trong khi những
người này miêu tả, Fried dùng một phương pháp đặc biệt để đo các
hoạt động trong não bộ của họ. Kết quả thật kỳ lạ: Não bộ của những
người này đều vận động các tế bào giống hệt nhau và "bức tranh" mà
họ kể lại khá giống nhau: Chúng đều là sản phẩm của rất ít thực tế và
rất nhiều tưởng tượng.
"Điều quan trọng không phải là chúng ta nhìn thấy bức tranh thật
hay chỉ ngồi tưởng tượng. Mỗi người đều có một con mắt thần – bộ
phận lưu giữ các hình ảnh tưởng tượng – giúp chúng ta có thể tổng
hợp hình ảnh và trình bày một khung cảnh nhất định", Fried nói.
* Thực tế và ảo giác
Tại sao bạn luôn có cảm giác rằng bạn có một bức tranh đầy đủ và
thực tế về cuộc sống hiện thực này? "Bởi vì rất hiếm khi bạn gặp được
ai đó chỉ cho thấy điều ngược lại!", các nhà
nghiên cứu hành vi giải thích.
Não bộ của bạn luôn được thu nạp và
xử lý một số hình ảnh mà mắt bạn "quét"
được từ thực tế, nhưng nó còn thu nhận
một khối lượng lớn hơn nhiều các hình ảnh
từ kho kinh nghiệm và trí tưởng tượng của
bạn. Mặt khác, việc não bộ của bạn lựa chọn
Ảo giác hoa Thủy Tiên "thực tế" nào là do trí tưởng tượng quyết
đ...
 





