Dạy bé các phương tiện giao thông | Vạn điều hay cho bé
BÁC HỒ VỚI THANH NIÊN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Vinh Hiển
Ngày gửi: 20h:16' 13-04-2024
Dung lượng: 60.1 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Vinh Hiển
Ngày gửi: 20h:16' 13-04-2024
Dung lượng: 60.1 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Nguyễn Văn Dương
(Sưu tâm & biên soạn)
CK.0000066643
BácHồ
MGUYẼN
)C LIỆU
NHÀ XUẤT BẢN HỐNG BÀNG
CHUYỆN KỂ BÁC Hố vón THANH NIÊN
Nguyễn Văn Dương (Sưu tám & biên soạn)
THANH NIÊN
\
Ảnh bìa: Chủ tịch Hổ Chí Minh tại Đại hội anh hùng
chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước, ngày 12/1/1967
LỜI GIỚI THIỆU
Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập và rèn
luyện Đảng ta, cũng là người sáng lập và rèn luyện tổ
chức Đoàn thanh niên cứu quốc. Người đã sớm phát
hiện được và tin tưởng ở tiềm năng, sức mạnh to lớn
của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc đấu tranh cách
mạng và thúc đẩy phát triển xã hội. Người nhận thấy
thanh niên là lực lượng đông đảo, hùng hậu, dũng
cảm; có những ưu thế nổi trội: trẻ, khoẻ, chiếm số
đông trong xã hội, hăng hái nhiệt tình, nhạy bén tiếp
thu cái mới. Thế hệ trẻ tiêu biểu cho sức sống, sức
phát triển của dân tộc, nếu được lãnh đạo, tổ chức,
giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện, thanh niên sẽ trở thành
động lực chính, đóng vai trò quan trọng trong sự
nghiệp giải phóng đất nước và dựng xây chủ nghĩa xã
hội. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng quan
tâm đến những thê hệ tương lai của Tổ quốc: "Một
năm khỏi đầu từ mùa xuân. M ột đời khởi đầu từ tuổi
trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của x ã hội".
Là một tập hợp có chọn lọc các bài nói, bài viết,
buối gặp gỡ, chuyên công tác, hình ánh sông động,
câu nói chân thực, các chuyện kể cảm động của những
nhân vật từng có dịp được tiếp xúc với Bác Hồ, được.
Người quan tâm, thăm hỏi, động viên, cuốn sách
“Chuyện k ể Bác Hồ với thanh niên” sẽ góp phần làm
rõ hơn quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo
dục thanh niên, về vai trò to lớn của thế hệ trẻ trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ
quốc; khẳng định tình cảm, sự quan tâm của Bác Hồ
đối với thanh niên ta và lòng kính yêu Bác Hồ của thế
hệ trẻ Việt Nam. Qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ hơn
về Bác Hồ - Người suốt đời hy sinh vì hạnh phúc cho
toàn thể nhân dân Việt Nam và hết lòng vì thế hệ trẻ,
tương lai của đất nước.
Nhân kỷ niệm 122 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ
Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2012), để thiết thực phục
vụ cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh, cuốn sách nhỏ mà ý nghĩa lớn này
sẽ giúp các bạn thanh niên và tất cả chúng ta ôn lại
những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần cổ
vũ, khích lệ mạnh mẽ để tuổi trẻ Việt Nam tự tin vững
bước, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn.
'Thanh niên là chủ tương lai của nước nhà.
Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một
phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm
người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại
phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải
ra sức làm việc đ ể chuẩn bị cái tương lai đó".
(Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, 2002, tr. 185)
"Không có việc gì khó,
Chỉ sợ lòng không bền,
Đào núi và lấp biển,
Có chí ắt làm nên"
(Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6,2002, tr.95)
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích
trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo
ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà
(Hồ Chi Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, 2002, tr.222)
“Ngày nay, được Đảng giáo dục, có Đoàn dắt dìu,
thanh niên chúng ta phải xung phong gương mầu
trong đạo đức, trong sinh hoạt, trong học tập, trong
lu a đôn g; p h ả i thực hiện khẩu hiệu "D â u cầ n thanh
niên có, đâu khó có thanh niên".
(Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1 1, 2002, tr.219
mm
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu thanh niên Nam bộ
tại Việt Bắc, năm 1949
Tôi nhận nhiệm vụ xảy dựng nhà chữa súng
Đặng Văn Cáp kể
... Cuối tháng 6-1940, đường giao thông bị tắc. Kế
hoạch về nước bằng đường Lào Cai của Bác thế là bị
bỏ. Hướng đi thay đổi, đồng chí Lộc được gọi về Côn
Minh. Tôi buộc phải nghỉ làm thợ để làm liên lạc giữa
Bác với các đống chí ta và các đống chí bạn. Còn Bác
lúc này là “nhân viên bán sách” cho “Đọc thư sinh
hoạt", một bộ phận của tổ chức cách mạng của ta nhưng
bề ngoài là một hiệu sách của tư nhân. Hiệu sách là
Wầ
nơi liên lạc của ta, ai có việc chí cần đi qua, hoặc vào
mua sách đúng ám hiệu. Bác sẽ có cách hẹn nơi nói
chuyện. Riêng tôi sáng nào cũng ra văn miếu cốt để
gặp Bác xin chỉ thị, và cùng Bác tập thể dục. Tập
xong, nếu không có việc đi đâu, tôi ngồi nghiên cứu
chủ nghĩa Mác - Lênin, lịch sử Đảng Cộng sản Liên
Xô. Để kiểm tra sức học của tôi, một hôm trên đường
tôi đưa Bác đi thăm một cơ sở (tôi nhớ là đến "Sinh
hoạt thư điếm”), Bác bát tôi phân tích tình hình thế
giới. Rồi Bác hỏi tôi về trường hợp của Lý Nhược Sơn
Triều Tiên đang dự tính thành lập chính phủ lưu vong.
- Chính phủ mà không có cơ sở cách mạng trong
nước là hỏng - Tôi trả lời.
- Thế cái hành động của ta ở Nam Kỳ thì sao?
- Tôi e là còn hơi sớm. Việc chuẩn bị cho cơ sở
chưa vững. Bác cười gật đầu.
Sau đó ít lâu, Nhật đưa quân vào xâm lược Việt
Nam. Côn Minh bị Nhật ném bom dữ dội liền hơn một
tháng. Tôi đưa Bác đi tránh máy bay ném bom mang
theo cả chiếc máy chữ cùng với Bác ra ngoại thành
Côn Minh.
Cuối cùng tôi chỉ mua được một vé đành để Bác đi
trước một mình. Mãi cuối tháng 11-1940, tôi mới mua
được vé đi Liễu Châu.
Tại Liễu Châu, Rác triệu tập các đồng ch í I,ý
Quang Hoa (Hoàng Văn Hoan), Phùng Chí Kiên và tôi
đến đê bàn một số việc. Tại một phòng trong một
khách sạn, Bác giao trách nhiệm cho chúng tối chuẩn
SK I
bị về biên giới. Chúng tôi bố trí xong các công tác
chuẩn bị thì vừa vặn các đổng chí Trịnh Đông Hải (Vũ
Anh), Dương Hoài Nam đưa Nguyễn Hải Thần về
Liễu Châu và đồng chí Lâm Bá Kiệt từ Quế Lâm cũng
vừa về tới.
Việc chuẩn bị về nước rất khẩn trương.
Đường Liễu Châu, Nam Ninh đi ô tô mất hai ngày
và từ Nam Ninh, chúng tôi đi thuyền xuống Điền
Đông, rồi đến Tĩnh Tây. Mấy ngày sau đồng chí Lôi
(Hoàng Văn Thụ) ở trong nước ra đã đi thẳng tới làng
Tân Khu tìm gặp Bác để báo cáo tình hình trong nước,
những công tác đã thực hiện và việc chuẩn bị Hội nghị
Trung ương lần thứ tám.
Sau khi Bác cho ý kiến, đồng chí Hoàng Văn Thụ
về nước. Một hôm, ăn cơm xong chúng tôi đi phố,
chợt gặp các đồng chí Lê Quảng Ba và Hoàng Sâm đi
qua. Thấy chúng tôi, hai đồng chí đồng thanh:
- Chuồn thôi ! - Nói rồi hai đồng chí đi thẳng.
Sáng hôm sau Bác cử đồng chí Lý Quang Hoa
xuống Long Châu gặp bọn Phục quốc và một binh sĩ
Pháp ở Lạng Sơn ra, còn đồng chí Hoàng Sâm dẫn
Bác, các đồng chí Lâm Bá Kiệt, Dương Hoài Nam,
Phùng Chí Kiên và tôi đi vòng đường Long Lâm qua
Nậm Bo xuống Nậm Quang (Tĩnh Tây). Cũng như mọi
lần trước, Bác vừa đi vừa nói chuyộn và phân tích tình
hình thế giới và trong nước, và nhiộm vụ cách mạng
của ta.
... Sau khi về nước, tôi vẫn ở liền bên cạnh Bác vì
Dig
ngoài việc in tài liệu, tôi còn có nhiệm vụ giao dịch
với địa phương lo lương thực. Bác lúc này bận rất
nhiều việc. Nào chỉ đạo việc chuẩn bị hội nghị Việt
Nam giải phóng đồng minh ở Tĩnh Tây mà người liên
lạc thường xuyên là đồng chí Lộc. Nào duyệt lại các
bài giảng “Con đường giải phóng". Nào gấp rút chuẩn
bị địa điểm, tài liệu, phương tiện vật chất cho Hội nghị
Trung ương lần thứ tám.
Từ Pác Bó Bác trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị Hội
nghị Việt Nam giải phóng đồng minh hội sắp được
triệu tập. Tổ chức này, để che mắt bọn Quốc dân Đảng
Trung Quốc cần có thành phần anh em ở "hải ngoại"
và anh em “ở trong nước" cử ra.
Bác phái đồng chí Hoàng Sâm đi Long Châu gặp
đồng chí Lý Quang Hoa, giao trách nhiệm cho đồng
chí Hoa vận động bọn Phục quốc và anh em trong
quân đội Pháp bỏ ngũ tham gia Việt Nam giải phóng
đồng minh hội. Bác giao việc này cho đồng chí Lý
Quang Hoa vì đồng chí Hoa đã có kinh nghiệm tổ
chức Hội nghị Việt Nam độc lập đồng minh hội cùng
với các đồng chí Kiên và Kiệt hồi tháng 11-1940 ở
Quế Lâm.
Bác vẫn theo dõi Hội nghị Việt Nam giải phóng
đồng minh hội bằng con đường liên lạc qua đồng chí
Lộc. Được ít lâu Bác cử tôi thay phiên đồng chí Lộc đi
liên lạc. Sự liên lạc này có hòm cân rât gap, tren mọt
đoạn đường dài vừa đi vừa về 64 cây số, chúng tôi đi
chỉ mất một ngày.
Gần đến ngày khai mạc hội nghị cuối tháng 3-
1941 tôi được cử đến ớ hẳn Tĩnh Tây tham gia việc
chuẩn .bị với các đồng chí Lý Quang Hoa, Lâm Bá
Kiệt, Dương Hoài Nam... Nhờ tổ chức Việt Nam giải
phóng đồng minh hội, chúng ta đã đưa được 80 anh
em thanh niên đi học quân sự và đưa được 10 người đi
học vô tuyến điện thông.
Sau thấy nó cũng hết tác dụng, Bác chỉ thị cho bộ
phận cán bộ ở Tĩnh Tây tìm lý do để rút hết. Cách
mạng trong nước đang khẩn trương, cần nhiều cán bộ.
Đồng chí Lê Thiết Hùng đang làm phó hiệu trưởng
trường quân sự trong quân đội của chúng, Bác cũng
gọi về nước. Đồng chí Lý Quang Hoa được phái ra, để
giúp đỡ và quản lý số 80 anh em đi học quân sự, đi
đến Bình Mãng bị chúng bắt giữ gần một năm. Sau
nhờ sự vận động của các tổ chức của ta chúng phải thả
đồng chí Lý Quang Hoa.
Khi tôi ở Tĩnh Tây về, Bác đã dọn cơ quan sang
Khuổi Nậm. Khuổi Nậm ở trong một khu rừng, cách
địa điểm cũ chừng hơn một cây số. Muốn vào phải lội
dọc một con suối nhỏ, tuy thường là nước cạn, nhưng
khi có mưa là lũ mạnh, khó đi. Địa điểm Bác chọn
nằm trong một hõm nhỏ giữa hai sườn núi đá xa chỗ
dân ở, vắng người đi lại...
Thời kỳ này là thời kỳ Bác đang chuẩn bị ráo riết
cho Hội nghị Trung ưưng lần Ihứ tám. Hội nghị này có
ý nghĩa lịch sử rất quan trọng.
Đến tháng 10-1941, tôi lại cùng đồng chí Lộc phụ
trách một lớp huấn luyện mới nữa. Lớp này mở ngay ở
EOR
vùng Pác Bó, sau một quá núi, trong sô học viên lớp
này, tôi nhớ có đồng chí Dương Đại Lâm.
Tháng 3-1942, Bác về Lam Sơn, tôi được giao
nhiệm vụ ở lại thu xếp một số công việc, thu xếp
xong tôi theo Bác về Lam Sơn.
Tôi vẫn được giao nhiệm vụ bảo vệ Bác và đi huấn
luyện quân sự cho các lớp. Sau này khi Bác đi Trung
Quốc rồi, do nhu cầu về vũ khí mà các đội vũ trang
cấp bách đòi hỏi tôi được Tổng bộ Việt Minh giao
thêm nhiệm vụ: xây dựng “Xưởng vũ khí". Xưởng
nằm trong vùng Lũng Hoàng mà chúng tôi đã đổi tên
là Lam Sơn.
Thực ra ý định lập "xương" này đã có từ lâu, hồi
tôi còn ở Côn Minh cùng với Bác. Hồi ấy, cứ sáng tập
thể dục xong, lúc ngồi nghỉ, Bác thường bàn tình hình
trong nước và thế giới. Một hôm Bác nói :
- Du kích phải tạo điều kiện mà đánh địch, cái gì
đánh được giặc là phải dùng cả. Anh biết nghề rèn, anh
nên chú ý khi có dịp phải rèn dao, mác cho du kích.
- Tôi biết rèn dao mác và biết cả chữa súng. Tôi
nói với Bác như vậy vì hồi tôi còn ở cơ quan quân sự ớ
Quảng Đông tỏi có tham gia việc chữa súng. Bản thân
tôi là nông dân, vì bắt buộc phải kiếm sống cho nên
tôi có biết qua nghề mộc, nghề rèn. Năm 1940 khi
cùng ớ với Bác ở COI1 M inh, LOi đa làm Ihự sái, chính
vì thế mà Bác mới gợi ý cho tôi như vậy.
Tôi đứng ra đảm nhiệm việc xây dựng “xưởng"
sản xuất bộc phá, lựu đạn thô sơ, chữa súng và rèn
MSI
dao, rèn mác. Bác gọi xướng này là “nhà chữa súng”.
Họp ở Lam Sơn với liên tính ủy Cao - Bắc - Lạng. Tôi
nhớ rõ trong cuộc họp này có các đồng chí Hoàng
Quốc Việt, Đặng Viết Châu, Vũ Anh, Phạm Vãn
Đồng, đại diện liên tỉnh ủy có đồng chí Bình Dương.
Ngày 9-5-1945, tôi đã lãnh đạo một tiểu đội “Tự vệ
chiến đấu” bảo vệ Bác đi Tân Trào. Trưa hôm sau đến
Khuổi Lạy, có liên lạc đến đón, tôi đề nghị xin đi theo
nhưng Bác không đồng ý. Bác nói:
Cần phải ở lại để củng cố “nhà chữa súng” và
giúp đỡ cán bộ địa phương. Đối với anh em công
nhân phải bồi dưỡng chính trị và huấn luyện quân sự
cho họ.
Theo chỉ thị của Bác, tôi về bàn với liên tỉnh ủy
Cao - Bắc - Lạng lấy thêm một số cán bộ bổ sung cho
tỉnh, đồng thời phát triển “xưởng vũ khí”... Cho đến
tháng 3-1946, Bác chỉ thị cho tôi quay trở lại Lam Sơn
củng cố khu an toàn và kiện toàn "Xưởng vũ khí".
Cùng với một số cán bộ tôi lại lên đường trở về cơ sở
cũ, chuẩn bị một cuộc chiến đấu mới...
Trích từ sách: Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977
Bác Hồ và đội du kích Pác Bó
■
Ngày thành lập đội du kích chúng tôi - đội du kích
đầu Lien của phong trào cách mạng Cao Bâng do Hác
trực tiếp tổ chức và chỉ đạo, rất đơn giản. Không có
hội trường, không có diễn văn, không có cờ hoa và
cũng không có khách mời. Nơi làm lễ thành lập đồng
thời cũng là thao trường ở trên đám ruộng to có tên
gọi là Pài Co Nhản ở đằng sau lán. Lúa vừa gặt xong,
gốc rạ còn cứng. Sự kiện lịch sử này xảy ra cách đây
đã gần 50 năm, tôi chỉ còn nhớ được là vào khoảng
tháng 11 năm 1941. Tôi (tức đồng chí Lê Quảng Ba)
được phân công đi đón Bác từ sớm, còn anh Lê Thiết
Hùng thì tập hợp cả đội để đón Bác. Lúc Bác đến anh
em đã đông đủ, đội ngũ chỉnh tề. Bác mặc bộ quần áo
Nùng, đầu trần, khăn quàng cổ, đi giày vải địa
phương. Theo sau Bác có tôi và đồng chí Lộc bảo vệ.
Đến nơi, tôi đứng vào hàng, đồng chí Lê Thiết Hùng
dõng dạc hô:
- Toàn đội chú ý: Lập chính.
Lập chính tức là khẩu lệnh “nghiêm” ngày nay, là
một từ Hán Việt chúng tôi vẫn dùng khi tập tự vệ. Chi
đội ai nấy đứng nghiêm, chăm chú hướng theo Bác.
Anh Hùng hai tay co lên ngang thắt lưng chạy đến
cách Bác mấy bước thì dừng lại, dập gót chân, đứng
nghiêm rồi giơ tay chào và báo cáo Bác:
- Báo cáo đồng chí! Toàn đội du kích đã tập hợp
đủ, mời đồng chí huấn thị.
Tư thế và các động tác quân sự thành thạo của anh
trông rất đẹp, chứng tỏ một trình độ huấn luyện chính
quy rất bài bản làm cho anh em thích thú. Bác nhìn
đội du kích tỏ
VC
hùi lòng, rồi bắt đầu nói, tôi nhớ sơ
lược như sau:
“Hôm nay, đội du kích Việt Minh đầu tiên được
thành lập, chúng ta cần phải nghiên cứu và làm tốt các
SB
nhiệm vụ đã đề ra, có cái làm trước, có cái làm sau.
Tổ chức đã phát sinh thì phải phát triển, muốn phát
triển được tốt, phải qua công tác thực tế mà phấn đấu
và rèn luyện. Các đồng chí là những cán bộ trung
thành, dũng cảm vì đoàn thể, vì dân phải đoàn kết,
chấp hành kỷ luật đội cho tốt, khiêm tốn học hỏi, giúp
nhau thực sự về chính trị, quân sự cũng như trong sinh
hoạt. Đối với nhân dân, đội phải như cá với nước:
nghĩa là đội như là đàn cá mà nhân dân là nước. Cá
không có nước thì không sống được. Nhật, Pháp là kẻ
thù của dân tộc và cũng là kẻ thù không đội trời chung
của cách mạng. Chúng luôn luôn rình mò để diệt cách
mạng, diệt chúng ta. Ta phải đề phòng và tích cực đối
phó sao cho cách mạng và lực lượng vũ trang của
mình được an toàn và ngày càng phát triển cho đến
khi có thể diệt bọn chúng giành lại đất nước. Mặt
khác, còn bao nhiêu vấn đề rộng lớn đang chờ các
đồng chí. Phải cố gắng học trong sách, học trong công
tác và trong chiến đấu. Qua một thời gian công tác,
các đồng chí phải là những người giỏi về chí huy và
lãnh đạo, giỏi về công tác. Chúng ta sẽ tổ chức và phát
triển nhiều đội du kích khác, chẳng những ở Cao Bằng
mà còn ở cả các tỉnh khác. Chúc các đồng chí học tập,
công tác thu được nhiều thắng lợi và xây dựng đội ngũ
ngày càng vững mạnh”.
Nói xong, Bác đưa cho chúng tôi một tập giấy ghi
10 điều kỷ luật của đội và những nguyên tắc xây dựng
và hoạt động của đội. Anh Lê Thiết Hùng thay mặt
anh em hứa với Bác sẽ thực hiện tốt lời dạy của Người
DIU
và học tập tốt trong đợt huấn luyện này. Tiếp đó, anh
hô to: “Lập chính”. Mọi người đều đứng nghiêm quay
mặt hướng vào Bác. Bác giơ tay vẫy và bảo “Anh em
nghỉ!” Tôi chạy ra khỏi hàng định đưa Bác trớ lại thì
Bác xua tay:
Đổng chí ở lại tập cùng với anh em, mình cùng
đồng chí Lộc khắc về, gần thôi.
Ngày thành lập đội du kích đầu tiên ở Pác Bó đơn
giản như vậy nhưng lại rất trang nghiêm và xúc động.
Anh chị em chúng tôi nhớ mãi kỷ niệm sâu sắc đó.
Bác đã đích thân đến khai mạc lễ thành lập đội du
kích đầu tiên này và đã ân cần châm sóc, dạy dỗ
chúng tôi ngay từ những bước đi chập chững ban đầu.
Bác đã đích thân duyệt kế hoạch tổ chức và kế hoạch
huấn luyện, đã tự tay thảo ra 10 điều kỷ luật và
những nguyên tắc xây dựng và hoạt động của đội.
Buổi sáng hôm ấy, tiếng hô khẩu lệnh vang cả thung
lũng. Chúng tôi tập hô khẩu lệnh rát cả cổ nhưng
cũng chỉ thống nhất được một số khẩu lệnh còn vẫn
chưa dứt khoát được nên chọn “nghiêm” hay là “đứng
nghiêm”. Đến trưa hôm ấy, lúc quay trở về nhà,
chúng tôi vẫn tiếp tục bàn cãi rất hăng và vẫn còn có
ý kiến khác nhau. Lúc bấy giờ, Bác ở lán 2, anh em ở
lán 1, Bác và anh em cùng ăn trưa ở lán 1. Gần đến
giờ ăn, Bác đến, nghe anh em trao đổi, Bác tham gia
ý kiến.
Từ đúng thì ta dùng, còn bây giờ chưa thấy oai,
sau này nghe quen rồi sẽ thấy oai. Cuối cùng, anh em
chúng tôi nhất trí chọn từ “nghiêm”. Quả nhiên, về
s a
sau dùng quen, chúng tôi càng thấy thích thú với kháu
lệnh “nghiêm” đó.
Những buổi sáng tiếp sau, chúng tôi vẫn tiếp tục
ra bãi tập và thảo luận việc Việt hóa các khẩu lệnh từ
Hán Việt, thay đổi nhau hô thử kết hợp làm động tác.
Nhưng về động tác vác súng, cũng nảy sinh vấn đề vác
thế nào? Lúc tập, chúng tôi cảm thấy vác theo kiểu
Tây có vẻ oai hơn, kiểu khác không hay lắm. Làm đi
làm lại động tác, rút cuộc thấy rằng do cấu tạo riêng,
khẩu súng Mút-cơ tông hay Anh đô si noa của Pháp
có thể vác thẳng còn các loại súng khác thì phải vác
nghiêng mới hợp. Ngay cả vấn đề chào có súng và
chào không súng, từ động tác đến khẩu lệnh cũng phải
bàn cãi. Có đồng chí bảo chào có súng theo kiểu Tây
là oai nhất. Khẩu lệnh chào có súng chỉ cần động lệnh
thôi hay cũng cần có dự lệnh. Tranh cãi và tập nhiều ở
thao trường mà mới chỉ nhất trí cần có dự lệnh thì
động tác chào mới đều, vẫn chưa nhất trí kiểu chào.
Về nhà, lúc ăn cơm trưa xong, biết việc đó Bác cho ý
kiến và làm động tác mẫu trước. Người cầm cây gậy
dựng ở vách làm súng, ướm đặt bên thất lưng, bàn tay
trái đỡ súng, mũi hướng về phía trước, bàn tay phải
nâng báng súng áp vào thắt lưng, đường thẳng của
súng và người tạo thành một góc nhọn làm thành chữ
V. N hìn động tác chào của Bác, m ôi ngưừi liong
chúng tôi reo lên:
A! Chào theo kiểu chữ V! Chào theo kiểu Việt
Minh!
B3I
Tất cả phá lên cười, Bác cũng mím cười. Thế là từ
đó, chúng tôi thống nhất được kiểu chào có súng, còn
kiểu chào tay không thì không phải là kiểu chào đưa
bàn tay thẳng năm ngón khít lên vành mũ như ngày
nay mà bàn tay phải nắm lại giơ lên ngang đầu theo
kiểu chào trong Đảng. Có khác kiểu chào của Đảng là
chào tay trái. Sau này có đồng chí nói rằng kiểu chào
nắm tay phải là kiểu chào thời Mặt trận bình dân.
Ngày nay, vấn đề khẩu lệnh và động tác cơ bản của
quân đội và động tác cơ bản của quân đội ta đã được
thống nhất và thành nề nếp nhưng cách đây gần 50
năm, trong bước khởi đầu, anh em du kích chúng tôi
đã phải mò mẫm, khó khăn như vậy.
Thật hạnh phúc khi được gặp Người
Lê Thiết Hùng kề '
Làm việc ở Pác Bó một thời gian ngắn, Bác bảo
tôi vạch kế hoạch huấn luyện quân sự. Cũng như
những lần giao nhiệm vụ trước, lần này Bác dặn tôi rất
tỉ mỉ về thòi gian khóa học, trọng tâm huấn luyện, đối
tượng giảng dạy, v.v... Làm xong tôi b'.o cáo với Bác,
Bác xem đi xem lại, cắt tất cả những chỗ thừa, những
chỗ chưa thiết thực. Cách làm việc của Bác hết sức
chu đáo, chặt chẽ, tỉ mỉ, thiết thực.
Đây là lớp quân sự đầu tiên được mở ngay trong
* N guyên Phó Trường Ban Đ ối ngoại Trung ương.
nước. Các đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm cùng
cộng tác với tôi tổ chức lớp huấn luyện này. Hàng
ngày, Bác dành khoảng 15 phút đến thãm lớp học,
gặp gỡ từng đồng chí, hỏi han cẩn thận xem học
viên hiểu đến đâu, chương trình đã hợp chưa? Tối
đến Bác còn gọi chúng tôi lên báo cáo tình hình học
tập của lớp trong ngày, rút kinh nghiệm bổ khuyết
cho ngày sau.
Trước sự chăm sóc đặc biệt của Bác, mỗi học viên
đều cảm thấy trách nhiệm ngày càng nặng nề nhưng
cũng rất vinh dự của mình. Mặc dù thời gian quá
ngắn, nhiều từ quân sự mới khó nhớ, nhưng ai nấy đều
phấn khởi, chăm chỉ học tập, rèn luyện.
Sau một thời gian cùng anh Văn (tức đồng chí Võ
Nguyên Giáp) công tác ở một vùng rẻo cao, tôi lại trở
về gặp Bác. Lúc bấy giờ Bác đã chuyển về Nguyên
Èình. Vẫn đời sống gian khổ, đạm bạc, Bác ăn, ở, ngủ,
làm việc trong một cái hang đá lạnh, ẩm mốc. Hang
này hẹp lòng và tối hơn hang Cốc Bó, nhưng lúc nào
tôi cũng thấy Bác vui vẻ, lạc quan, tin tưởng. Tôi
được gần Bác nhiều hơn. Ban ngày ngoài giờ làm
việc tôi tranh thủ thổi cơm rồi cùng ăn với Bác (Lúc
bấy giờ đồng chí Lộc, người thổi cơm cho Bác đi
vắng). Càng sồng gần Bác tôi càng thấy ở Bác một
tình cảm chân thành nồng ấm, môt tình thương mênh
mông đối với mọi người. Khi một đồng chí nào mắc
sai lầm khuyết điểm mà đã nhận ra lỗi lầm của mình
thì bao giờ Bác cũng tìm cách làm cho họ an tâm và
chỉ cho cách sửa chữa...
B I!
Lúc này quân Đức đang ồ ạt tiến vào Liên Xô.
Báo chí đăng rất nhiều tin tức về những trận tấn công
như vũ bão của quân phátxít và những cuộc rút lui của
Hồng quân Liên Xô. Tinh hình này, không biết cách
mạng sẽ đi đến đâu? Tôi lo lắng hỏi Bác. Bác im lặng
một lát rồi nói :
- Không lo. Cuối cùng Hồng quân nhất định
thắng!
Và để chứng minh cho điều ấy; Bác phân tích cho
tôi rõ sự tất thắng của Hồng quân và sự thất bại tất yếu
của bọn phátxít. Bác nói:
- Nhân dân Liên Xô đã được giải phóng hơn 20
năm rồi. Họ đã từng kinh qua cuộc Cách mạng tháng
Mười vĩ đại, đã từng được Lênin giáo dục và giác ngộ,
dân tộc ấy nhất định không chịu khuất phục bọn Đức
phátxít đâu.
Ngay cả những lúc tình hình hết sức tăm tối, Bác
đã dựng lên trước mắt tôi những hình ảnh đẹp đẽ về
một ngày mai toàn thắng. Niềm tin và tinh thần lạc
quan cách mạng của Bác thật trong sáng, thật vững
chắc, nó đánh tan tất cả những tâm trạng hoài nghi,
hoang mang, nó củng cố lòng tin cho mọi người.
Không một khó khăn, gian khổ nào làm cho Bác chùn
bước, càng khó khăn, gian khổ Bác càng tỏ ra vững
vàng, sang suồt. Bac đá nhìn thây khả nang tiẻm tầng
của ta và sự diệt vong tất yếu của kẻ thù...
Trích từ sách Đầu nguồn. Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977.
m
Tôi được Bác giao nhiệm vụ
Lê Quảng Ba k ể
Từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ tám, phong
trào cách mạng ở Cao Bằng có những bước phát triển
mới vững chắc. Các trạm giao thông đi các huyện
được củng cố. Hồi đó, thấy Cao Bằng còn 90% dân số
mù chữ và trong cán bộ cũng có nhiều đồng chí chưa
biết chữ, Bác chủ trương: “Phong trào Việt Minh tới
đâu, tổ chức học văn hóa ở đó. Người biết dạy người
không biết, người biết nhiều dạy người biết ít”.
Chúng tôi thực hiện chủ trương của Bác, bất đầu
từ cơ quan. Trong học tập đồng chí Thế An gặp khó
khăn lớn, vì đồng chí học đâu quên đấy. Trước khó
khăn đó, Bác đã nhận trách nhiệm dạy chữ cho đồng
chí Thế An. Bác dạy chữ theo cách của Bác, chỉ trong
một thời gian ngắn đồng chí Thế An đã biết đọc biết
viết. Sau đó để bảo đảm tờ báo Việt Nam độc lập hợp
với trình độ nhân dân các dân tộc, Bác thường lấy
trình độ đọc báo của đồng chí Thế An làm mức để
duyột các bài báo trước khi đưa in. Một lần đồng chí
Vân Trình viết bản thạch bị ốm. Lo báo không ra
đúng kỳ hạn, Bác đã cặm cụi ngồi viết thay đồng chí
Vân Trình.
Rất nhiều thơ ca cách mạng Bác viết trong những
ngày Người ở Pác Bó (Lịch sử diễn ca, Mười điều của
chương trình Việt Minh, Địa dư Bắc Kỳ, Địa dư Cao
Bằng, các bài cho thanh niên, phụ nữ, nông dân, phụ
lão, thiếu nhi, binh sĩ cứu quốc, v.v.) được in trên báo
Việt Nam độc lập hoặc in thành sách và lưu truyền
trong nhân dân.
Cùng với công tác chính trị và vãn hóa, trước sau
Bác vẫn rất coi trọng công tác quân sự. Ngoài lớp
quân sự dài hạn còn có lớp ngấn hạn 15 ngày về cách
đánh bộc phá. Bác thường giáo dục cán bộ phòng
ngừa khuynh hướng manh động, nhưng Người không
bao giờ ngăn những hành động quân sự cần thiết. Khi
mới về Pác Bó, Bác đã cho phép tôi tổ chức tìm kiếm
vũ khí.
Tháng 11 - 1941, Bác quyết định thành lập đội du
kích gồm 13 người với đủ súng đạn. Bác giao cho tôi
chỉ huy đội vũ trang thoát ly đầu tiên này. Anh Hoàng
Sâm làm đội phó, anh Thiết Hùng làm chính trị viên.
Đội chúng tôi nhận năm nhiệm vụ: Bảo vệ cơ quan
và cán bộ đặc biệt; Võ trang tuyên truyền cách mạng
trong quần chúng; Xây dựng nền nếp cho các lực
lượng vũ trang sau này; Công tác đặc biệt; Giao thông
liên lạc đặc biệt. Súng của đội vũ trang này, ngoài số
mới đi nhận về, một phần do các đội viên vận động
gia đình tự sắm cho. Đội chúng tôi được chăm lo rất
chu đáo. Bác biên soạn “Mười điều nêrì' và “Chiến
thuật du kích” cho chúng tôi học tập. Người còn đích
thân tham gia việc huấn luyện.
Người dạy chúng tôi: người tham gia du kích phải
có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù địch sâu sắc,
chiến đấu dũng cảm và quan hộ tốt với quần chúng.
Hoạt động du kích phải bảo đảm thật bí mật, ta đến
23
địch không hay, ta đi địch không biết. Người du kích
phải dựa vào dân, dân là tai mắt, và cùng nhân dân
đánh địch,... Trên cơ sở tổ chức, huấn luyện và hoạt
động của đội du kích và qua bàn bạc nhiều lần, chúng
tôi đã bước đầu xây dựng nền nếp để mở các lớp huấn
luyện đào tạo cán bộ tự vệ thôn, xã, huyện, tổng.
Các lớp huấn luyện quân chính của tỉnh và các lớp
của huyện được mở liên tục từ năm 1941 đến 1944.
Tại Pác Bó đã mở hai lớp quân chính của tỉnh. Đồng
thời ở các xã cũng liên tục mở các lớp huấn luyện
quân sự cho tự vệ và tự vệ chiến đấu. Anh em tự vệ
đểu tự sắm lấy vũ khí từ gậy gộc, giáo mác đến súng
kíp, hỏa mai, súng trường. Có một số đổng chí đã bán
cả trâu, bò, ruộng vườn để lấy tiền mua súng hoặc lựu
đạn. Nữ thanh niên mạnh dạn mặc quần áo cộc, đầu
đội mũ, chân quấn xà cạp, đi tập như nam giới. Mười
điều kỷ luật và chiến thuật du kích do Bác biên soạn
được phổ biến rất rộng rãi.
Khẩu hiệu "Lấy súng thù bắn thù" của Bác nêu ra
càng động viên các anh chị em hãng hái luyện tập.
"Ngày nay là giáo mác, gậy gộc, ngày mai là súng ống
đàng hoàng". Anh chị em tin chắc như vậy. Đầu nãm
1942, thấy các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu hoạt động
khá tốt, Bác chí thị cho phân tán đội du kích Pác Bó đi
làm nòng cốt ở các nơi.
Từ đó các lực lượng vũ trang tống, châu, huyện
được thành lập và hoạt động thoát ly tại các địa
phương, bên cạnh các lực lượng tự vệ và tự vệ chiến
đấu xã. Hồi đó phong trào ỉàm vườn không nhà trống,
B IB
mua sắm vũ khí, chuẩn bị vũ trang khới nghĩa khá sôi
nổi. Nhiều tên phản động đắc lực của địch bị trừng trị.
Lúc đầu có nơi diệt tràn lan. Bác đã nghiêm khắc phê
bình và cho học một đoạn chống khủng bố "cá nhân"
của Lênin trong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên
Xô và đem phổ biến cho các nơi rút kinh nghiệm. Do
đó, mặc dù về sau này vắng mặt Bác một thời gian,
hoạt động vũ trang ở Cao Bằng vẫn đúng hướng và
vững vàng. Chủ trương của ta lúc đó mới là đánh để
tránh chứ không bộc lộ lực lượng...
Trích từ sách Đầu nguồn Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977
Bác dặn phải tìm hiểu kỹ tình hình
và linh hoạt giải quyết
Cao Hổng Lãnh k ể '
Những năm 1943 - 1944, tình hình ở biên giới
Việt - Trung có nhiều khó khăn phức tạp. Hồi ấy, bọn
Đồng minh chống phátxít muốn vào nước ta. Chúng
đã phái người xuống Bình Mãng, nơi giáp giới Sóc
Giang (Hà Quảng). Chúng yêu cầu ta giúp chúng
chống Nhật. Các đồng chí địa phương báo cáo chuyện
này lên Bác, Bác cho gọi tôi đến. Thấy tôi, Bác nói
ngay: Đám này là đám Đồng minh, chúng nói chống
Nhật nhưng chúng vào đây cốt đế năm tình hình cúa
Nhật, đồng thời cũng để nắm tình hình về ta, cho nên
* N guyên Phó Trường Ban Đ ối ngoại Trung ương.
25
chúng đưa cả diện đài vào. Đám này chú yếu là hoạt
động tinh báo đấy, vì vậy chú phải xử trí cho khéo.
Bác đưa ra mấy phương châm phải nhớ để giải quyết
công việc:
- Thứ nhất là làm điều gì có lợi cho nó tức là có
hại cho mình.
- Thứ hai là không từ chối mà cũng không hứa
hẹn gì.
- Thứ ba là chiêu đãi rất tốt, đối xử tốt về cả vật
chất lẫn tinh thần.
Bác dặn phải tìm hiểu kỹ hoàn cảnh của chúng nó
mà linh hoạt giải quyết. Nhờ có ba phương châm này
mà tôi cùng Quốc Vân như có được chỗ dựa mà ứng
phó với địch. Càng làm đúng lời Bác dạy, tôi càng
thấy Bác thật vô cùng sáng suốt.
Trích từ sách: Đầu nguồn. Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977
Những gì còn dùng được
không nên phạm phí
Tống Minh Phương k ể
Cuối năm 1944, Hồ Chủ tịch từ trong nước có
việc sang Cỏn Minh. Bác sống ở nhà tôi trong mấy
tháng. Mải sau này tôi còn nhớ những ngày được
gặp Bác lần ấy. Bây giờ ngồi kể lại, tôi cứ bồi hồi
như đang nâng niu trong tay vật gì thiêng liêng quý
báu lấm, chỉ sợ sểnh tay không giữ được trọn vẹn.
sa g
Tôi chi sợ nhớ không được hết, ghi không được
đúng hình ảnh Bác trong những ngày đầy ánh sáng
ấy của đời tôi.
Bác tới vào một buổi chiều mùa đông. Cảm giác
đầu tiên của tôi là thấy Bác gầy quá. Đôi mắt Bác vẫn
trong sáng, hiền từ như thế, nhưng đôi gò má của Bác
cao lên. Da Bác không được đỏ đắn, tóc Bác đã bạc
nhiều... Bác mặc một bộ quần áo nhuộm chàm phai
màu; trời rét, Bác khoác thêm một cái áo bông ngắn
sờn vai. Lúc tới, Bác đi đất, đầu đội một cái mũ vải
cũng nhuộm chàm.
Nhà tôi là một tiệm cà phê. Hồi ấy tôi chưa được
tham gia tổ chức, mới còn gọi là một người cảm tình,
nhà tôi là một cơ sở hoạt động của Đảng ở Côn Minh.
Tôi thu xếp mời Bác nghỉ trong một căn buồng trên
gác, một căn buồng chật hẹp, chỉ đủ kê một cái giường
Bác nằm và một cái bàn Bác làm việc, nhưng có một
khung cửa sổ. Thu xếp xong chỗ nghỉ cho Bác, chúng
tôi soạn lại hành lý của Bác. Việc này phải nhờ mấy
anh cùng đi với Bác - anh Phùng Thế Tài và một đồng
chí người thiểu số lúc ấy tên là Minh. Thực ra cũng
chẳng có gì mà soạn. Hay nói cho đúng, những thứ Bác
mang theo đều nên bỏ, đều nên thay, kể từ cái khăn
mặt đến cái ống đựng thịt muối. Cái khăn mặt của Bác
nhuọm chãm bạc Ihéch đa rách gàn hei. Đ oi giày của
Bác mang theo càng rách hơn, Bác đi đến nỗi lòi cả
chân ra. Còn ống thịt muối? Hai anh Phùng Thế Tài và
Minh ngày ấy còn rất trẻ. Các anh mở nắp ống thịt
muối ra, lắc đầu kể lại cho chúng tôi nghe về “món
thịt” ấy dọc đường. Các anh bảo đúng ra phải gọi là
“muối thịt”, vì thực tình đến chín phần muối mới có
một phần thịt. Dọc đường vượt biên giới, mỗi ngày đi
bộ, đến nơi phải nấu ăn, người nấu cơm, người đi hái
rau rừng, muối ấy và vài miếng thịt bỏ vào nấu canh.
Ăn được nhiều, ít, Bác vẫn theo kịp hai anh đường
trường, dốc núi. Hành lý của Bác, đáng kể nhất chính là
ống thịt muối ấy. Nhưng cả ống thịt muối chúng tôi
cũng muốn bỏ đi, khi nào Bác về sẽ làm ống khác.
Nhưng Bác không cho làm thế, không cho vứt bỏ
thứ gì cả, Bác bảo: đồng bào, các đồng chí ở nhà còn
khổ, những thứ ấy còn dùng được. Nhất là ống thịt
muối, không nên phí phạm. Cùng lắm, Bác mới cho
mua cái khăn mặt, và vì công việc cần thiết, Bác mới
cho mua đôi giày vải. Lúc nhà tôi đi mua, Bác còn
dặn mua đôi ít tiền bằng vải thường thôi. Chiếc khăn
mặt mua về, Bác lại đem nhuộm xanh, còn đôi giày
vải, Bác phê bình vì nhà tôi đã mua một đôi loại
kha khá.
Đường xa lâu ngày, lại lội suối, leo núi, Bác tới
nơi thì mệt. Bác không cho đưa đi bệnh viện, sợ có
những việc bất trắc. Bác chỉ cho nhà tôi mua vài ống
thuốc...
(Sưu tâm & biên soạn)
CK.0000066643
BácHồ
MGUYẼN
)C LIỆU
NHÀ XUẤT BẢN HỐNG BÀNG
CHUYỆN KỂ BÁC Hố vón THANH NIÊN
Nguyễn Văn Dương (Sưu tám & biên soạn)
THANH NIÊN
\
Ảnh bìa: Chủ tịch Hổ Chí Minh tại Đại hội anh hùng
chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước, ngày 12/1/1967
LỜI GIỚI THIỆU
Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập và rèn
luyện Đảng ta, cũng là người sáng lập và rèn luyện tổ
chức Đoàn thanh niên cứu quốc. Người đã sớm phát
hiện được và tin tưởng ở tiềm năng, sức mạnh to lớn
của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc đấu tranh cách
mạng và thúc đẩy phát triển xã hội. Người nhận thấy
thanh niên là lực lượng đông đảo, hùng hậu, dũng
cảm; có những ưu thế nổi trội: trẻ, khoẻ, chiếm số
đông trong xã hội, hăng hái nhiệt tình, nhạy bén tiếp
thu cái mới. Thế hệ trẻ tiêu biểu cho sức sống, sức
phát triển của dân tộc, nếu được lãnh đạo, tổ chức,
giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện, thanh niên sẽ trở thành
động lực chính, đóng vai trò quan trọng trong sự
nghiệp giải phóng đất nước và dựng xây chủ nghĩa xã
hội. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng quan
tâm đến những thê hệ tương lai của Tổ quốc: "Một
năm khỏi đầu từ mùa xuân. M ột đời khởi đầu từ tuổi
trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của x ã hội".
Là một tập hợp có chọn lọc các bài nói, bài viết,
buối gặp gỡ, chuyên công tác, hình ánh sông động,
câu nói chân thực, các chuyện kể cảm động của những
nhân vật từng có dịp được tiếp xúc với Bác Hồ, được.
Người quan tâm, thăm hỏi, động viên, cuốn sách
“Chuyện k ể Bác Hồ với thanh niên” sẽ góp phần làm
rõ hơn quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo
dục thanh niên, về vai trò to lớn của thế hệ trẻ trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ
quốc; khẳng định tình cảm, sự quan tâm của Bác Hồ
đối với thanh niên ta và lòng kính yêu Bác Hồ của thế
hệ trẻ Việt Nam. Qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ hơn
về Bác Hồ - Người suốt đời hy sinh vì hạnh phúc cho
toàn thể nhân dân Việt Nam và hết lòng vì thế hệ trẻ,
tương lai của đất nước.
Nhân kỷ niệm 122 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ
Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2012), để thiết thực phục
vụ cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh, cuốn sách nhỏ mà ý nghĩa lớn này
sẽ giúp các bạn thanh niên và tất cả chúng ta ôn lại
những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần cổ
vũ, khích lệ mạnh mẽ để tuổi trẻ Việt Nam tự tin vững
bước, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn.
'Thanh niên là chủ tương lai của nước nhà.
Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một
phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm
người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại
phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải
ra sức làm việc đ ể chuẩn bị cái tương lai đó".
(Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, 2002, tr. 185)
"Không có việc gì khó,
Chỉ sợ lòng không bền,
Đào núi và lấp biển,
Có chí ắt làm nên"
(Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6,2002, tr.95)
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích
trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo
ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà
(Hồ Chi Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, 2002, tr.222)
“Ngày nay, được Đảng giáo dục, có Đoàn dắt dìu,
thanh niên chúng ta phải xung phong gương mầu
trong đạo đức, trong sinh hoạt, trong học tập, trong
lu a đôn g; p h ả i thực hiện khẩu hiệu "D â u cầ n thanh
niên có, đâu khó có thanh niên".
(Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1 1, 2002, tr.219
mm
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu thanh niên Nam bộ
tại Việt Bắc, năm 1949
Tôi nhận nhiệm vụ xảy dựng nhà chữa súng
Đặng Văn Cáp kể
... Cuối tháng 6-1940, đường giao thông bị tắc. Kế
hoạch về nước bằng đường Lào Cai của Bác thế là bị
bỏ. Hướng đi thay đổi, đồng chí Lộc được gọi về Côn
Minh. Tôi buộc phải nghỉ làm thợ để làm liên lạc giữa
Bác với các đống chí ta và các đống chí bạn. Còn Bác
lúc này là “nhân viên bán sách” cho “Đọc thư sinh
hoạt", một bộ phận của tổ chức cách mạng của ta nhưng
bề ngoài là một hiệu sách của tư nhân. Hiệu sách là
Wầ
nơi liên lạc của ta, ai có việc chí cần đi qua, hoặc vào
mua sách đúng ám hiệu. Bác sẽ có cách hẹn nơi nói
chuyện. Riêng tôi sáng nào cũng ra văn miếu cốt để
gặp Bác xin chỉ thị, và cùng Bác tập thể dục. Tập
xong, nếu không có việc đi đâu, tôi ngồi nghiên cứu
chủ nghĩa Mác - Lênin, lịch sử Đảng Cộng sản Liên
Xô. Để kiểm tra sức học của tôi, một hôm trên đường
tôi đưa Bác đi thăm một cơ sở (tôi nhớ là đến "Sinh
hoạt thư điếm”), Bác bát tôi phân tích tình hình thế
giới. Rồi Bác hỏi tôi về trường hợp của Lý Nhược Sơn
Triều Tiên đang dự tính thành lập chính phủ lưu vong.
- Chính phủ mà không có cơ sở cách mạng trong
nước là hỏng - Tôi trả lời.
- Thế cái hành động của ta ở Nam Kỳ thì sao?
- Tôi e là còn hơi sớm. Việc chuẩn bị cho cơ sở
chưa vững. Bác cười gật đầu.
Sau đó ít lâu, Nhật đưa quân vào xâm lược Việt
Nam. Côn Minh bị Nhật ném bom dữ dội liền hơn một
tháng. Tôi đưa Bác đi tránh máy bay ném bom mang
theo cả chiếc máy chữ cùng với Bác ra ngoại thành
Côn Minh.
Cuối cùng tôi chỉ mua được một vé đành để Bác đi
trước một mình. Mãi cuối tháng 11-1940, tôi mới mua
được vé đi Liễu Châu.
Tại Liễu Châu, Rác triệu tập các đồng ch í I,ý
Quang Hoa (Hoàng Văn Hoan), Phùng Chí Kiên và tôi
đến đê bàn một số việc. Tại một phòng trong một
khách sạn, Bác giao trách nhiệm cho chúng tối chuẩn
SK I
bị về biên giới. Chúng tôi bố trí xong các công tác
chuẩn bị thì vừa vặn các đổng chí Trịnh Đông Hải (Vũ
Anh), Dương Hoài Nam đưa Nguyễn Hải Thần về
Liễu Châu và đồng chí Lâm Bá Kiệt từ Quế Lâm cũng
vừa về tới.
Việc chuẩn bị về nước rất khẩn trương.
Đường Liễu Châu, Nam Ninh đi ô tô mất hai ngày
và từ Nam Ninh, chúng tôi đi thuyền xuống Điền
Đông, rồi đến Tĩnh Tây. Mấy ngày sau đồng chí Lôi
(Hoàng Văn Thụ) ở trong nước ra đã đi thẳng tới làng
Tân Khu tìm gặp Bác để báo cáo tình hình trong nước,
những công tác đã thực hiện và việc chuẩn bị Hội nghị
Trung ương lần thứ tám.
Sau khi Bác cho ý kiến, đồng chí Hoàng Văn Thụ
về nước. Một hôm, ăn cơm xong chúng tôi đi phố,
chợt gặp các đồng chí Lê Quảng Ba và Hoàng Sâm đi
qua. Thấy chúng tôi, hai đồng chí đồng thanh:
- Chuồn thôi ! - Nói rồi hai đồng chí đi thẳng.
Sáng hôm sau Bác cử đồng chí Lý Quang Hoa
xuống Long Châu gặp bọn Phục quốc và một binh sĩ
Pháp ở Lạng Sơn ra, còn đồng chí Hoàng Sâm dẫn
Bác, các đồng chí Lâm Bá Kiệt, Dương Hoài Nam,
Phùng Chí Kiên và tôi đi vòng đường Long Lâm qua
Nậm Bo xuống Nậm Quang (Tĩnh Tây). Cũng như mọi
lần trước, Bác vừa đi vừa nói chuyộn và phân tích tình
hình thế giới và trong nước, và nhiộm vụ cách mạng
của ta.
... Sau khi về nước, tôi vẫn ở liền bên cạnh Bác vì
Dig
ngoài việc in tài liệu, tôi còn có nhiệm vụ giao dịch
với địa phương lo lương thực. Bác lúc này bận rất
nhiều việc. Nào chỉ đạo việc chuẩn bị hội nghị Việt
Nam giải phóng đồng minh ở Tĩnh Tây mà người liên
lạc thường xuyên là đồng chí Lộc. Nào duyệt lại các
bài giảng “Con đường giải phóng". Nào gấp rút chuẩn
bị địa điểm, tài liệu, phương tiện vật chất cho Hội nghị
Trung ương lần thứ tám.
Từ Pác Bó Bác trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị Hội
nghị Việt Nam giải phóng đồng minh hội sắp được
triệu tập. Tổ chức này, để che mắt bọn Quốc dân Đảng
Trung Quốc cần có thành phần anh em ở "hải ngoại"
và anh em “ở trong nước" cử ra.
Bác phái đồng chí Hoàng Sâm đi Long Châu gặp
đồng chí Lý Quang Hoa, giao trách nhiệm cho đồng
chí Hoa vận động bọn Phục quốc và anh em trong
quân đội Pháp bỏ ngũ tham gia Việt Nam giải phóng
đồng minh hội. Bác giao việc này cho đồng chí Lý
Quang Hoa vì đồng chí Hoa đã có kinh nghiệm tổ
chức Hội nghị Việt Nam độc lập đồng minh hội cùng
với các đồng chí Kiên và Kiệt hồi tháng 11-1940 ở
Quế Lâm.
Bác vẫn theo dõi Hội nghị Việt Nam giải phóng
đồng minh hội bằng con đường liên lạc qua đồng chí
Lộc. Được ít lâu Bác cử tôi thay phiên đồng chí Lộc đi
liên lạc. Sự liên lạc này có hòm cân rât gap, tren mọt
đoạn đường dài vừa đi vừa về 64 cây số, chúng tôi đi
chỉ mất một ngày.
Gần đến ngày khai mạc hội nghị cuối tháng 3-
1941 tôi được cử đến ớ hẳn Tĩnh Tây tham gia việc
chuẩn .bị với các đồng chí Lý Quang Hoa, Lâm Bá
Kiệt, Dương Hoài Nam... Nhờ tổ chức Việt Nam giải
phóng đồng minh hội, chúng ta đã đưa được 80 anh
em thanh niên đi học quân sự và đưa được 10 người đi
học vô tuyến điện thông.
Sau thấy nó cũng hết tác dụng, Bác chỉ thị cho bộ
phận cán bộ ở Tĩnh Tây tìm lý do để rút hết. Cách
mạng trong nước đang khẩn trương, cần nhiều cán bộ.
Đồng chí Lê Thiết Hùng đang làm phó hiệu trưởng
trường quân sự trong quân đội của chúng, Bác cũng
gọi về nước. Đồng chí Lý Quang Hoa được phái ra, để
giúp đỡ và quản lý số 80 anh em đi học quân sự, đi
đến Bình Mãng bị chúng bắt giữ gần một năm. Sau
nhờ sự vận động của các tổ chức của ta chúng phải thả
đồng chí Lý Quang Hoa.
Khi tôi ở Tĩnh Tây về, Bác đã dọn cơ quan sang
Khuổi Nậm. Khuổi Nậm ở trong một khu rừng, cách
địa điểm cũ chừng hơn một cây số. Muốn vào phải lội
dọc một con suối nhỏ, tuy thường là nước cạn, nhưng
khi có mưa là lũ mạnh, khó đi. Địa điểm Bác chọn
nằm trong một hõm nhỏ giữa hai sườn núi đá xa chỗ
dân ở, vắng người đi lại...
Thời kỳ này là thời kỳ Bác đang chuẩn bị ráo riết
cho Hội nghị Trung ưưng lần Ihứ tám. Hội nghị này có
ý nghĩa lịch sử rất quan trọng.
Đến tháng 10-1941, tôi lại cùng đồng chí Lộc phụ
trách một lớp huấn luyện mới nữa. Lớp này mở ngay ở
EOR
vùng Pác Bó, sau một quá núi, trong sô học viên lớp
này, tôi nhớ có đồng chí Dương Đại Lâm.
Tháng 3-1942, Bác về Lam Sơn, tôi được giao
nhiệm vụ ở lại thu xếp một số công việc, thu xếp
xong tôi theo Bác về Lam Sơn.
Tôi vẫn được giao nhiệm vụ bảo vệ Bác và đi huấn
luyện quân sự cho các lớp. Sau này khi Bác đi Trung
Quốc rồi, do nhu cầu về vũ khí mà các đội vũ trang
cấp bách đòi hỏi tôi được Tổng bộ Việt Minh giao
thêm nhiệm vụ: xây dựng “Xưởng vũ khí". Xưởng
nằm trong vùng Lũng Hoàng mà chúng tôi đã đổi tên
là Lam Sơn.
Thực ra ý định lập "xương" này đã có từ lâu, hồi
tôi còn ở Côn Minh cùng với Bác. Hồi ấy, cứ sáng tập
thể dục xong, lúc ngồi nghỉ, Bác thường bàn tình hình
trong nước và thế giới. Một hôm Bác nói :
- Du kích phải tạo điều kiện mà đánh địch, cái gì
đánh được giặc là phải dùng cả. Anh biết nghề rèn, anh
nên chú ý khi có dịp phải rèn dao, mác cho du kích.
- Tôi biết rèn dao mác và biết cả chữa súng. Tôi
nói với Bác như vậy vì hồi tôi còn ở cơ quan quân sự ớ
Quảng Đông tỏi có tham gia việc chữa súng. Bản thân
tôi là nông dân, vì bắt buộc phải kiếm sống cho nên
tôi có biết qua nghề mộc, nghề rèn. Năm 1940 khi
cùng ớ với Bác ở COI1 M inh, LOi đa làm Ihự sái, chính
vì thế mà Bác mới gợi ý cho tôi như vậy.
Tôi đứng ra đảm nhiệm việc xây dựng “xưởng"
sản xuất bộc phá, lựu đạn thô sơ, chữa súng và rèn
MSI
dao, rèn mác. Bác gọi xướng này là “nhà chữa súng”.
Họp ở Lam Sơn với liên tính ủy Cao - Bắc - Lạng. Tôi
nhớ rõ trong cuộc họp này có các đồng chí Hoàng
Quốc Việt, Đặng Viết Châu, Vũ Anh, Phạm Vãn
Đồng, đại diện liên tỉnh ủy có đồng chí Bình Dương.
Ngày 9-5-1945, tôi đã lãnh đạo một tiểu đội “Tự vệ
chiến đấu” bảo vệ Bác đi Tân Trào. Trưa hôm sau đến
Khuổi Lạy, có liên lạc đến đón, tôi đề nghị xin đi theo
nhưng Bác không đồng ý. Bác nói:
Cần phải ở lại để củng cố “nhà chữa súng” và
giúp đỡ cán bộ địa phương. Đối với anh em công
nhân phải bồi dưỡng chính trị và huấn luyện quân sự
cho họ.
Theo chỉ thị của Bác, tôi về bàn với liên tỉnh ủy
Cao - Bắc - Lạng lấy thêm một số cán bộ bổ sung cho
tỉnh, đồng thời phát triển “xưởng vũ khí”... Cho đến
tháng 3-1946, Bác chỉ thị cho tôi quay trở lại Lam Sơn
củng cố khu an toàn và kiện toàn "Xưởng vũ khí".
Cùng với một số cán bộ tôi lại lên đường trở về cơ sở
cũ, chuẩn bị một cuộc chiến đấu mới...
Trích từ sách: Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977
Bác Hồ và đội du kích Pác Bó
■
Ngày thành lập đội du kích chúng tôi - đội du kích
đầu Lien của phong trào cách mạng Cao Bâng do Hác
trực tiếp tổ chức và chỉ đạo, rất đơn giản. Không có
hội trường, không có diễn văn, không có cờ hoa và
cũng không có khách mời. Nơi làm lễ thành lập đồng
thời cũng là thao trường ở trên đám ruộng to có tên
gọi là Pài Co Nhản ở đằng sau lán. Lúa vừa gặt xong,
gốc rạ còn cứng. Sự kiện lịch sử này xảy ra cách đây
đã gần 50 năm, tôi chỉ còn nhớ được là vào khoảng
tháng 11 năm 1941. Tôi (tức đồng chí Lê Quảng Ba)
được phân công đi đón Bác từ sớm, còn anh Lê Thiết
Hùng thì tập hợp cả đội để đón Bác. Lúc Bác đến anh
em đã đông đủ, đội ngũ chỉnh tề. Bác mặc bộ quần áo
Nùng, đầu trần, khăn quàng cổ, đi giày vải địa
phương. Theo sau Bác có tôi và đồng chí Lộc bảo vệ.
Đến nơi, tôi đứng vào hàng, đồng chí Lê Thiết Hùng
dõng dạc hô:
- Toàn đội chú ý: Lập chính.
Lập chính tức là khẩu lệnh “nghiêm” ngày nay, là
một từ Hán Việt chúng tôi vẫn dùng khi tập tự vệ. Chi
đội ai nấy đứng nghiêm, chăm chú hướng theo Bác.
Anh Hùng hai tay co lên ngang thắt lưng chạy đến
cách Bác mấy bước thì dừng lại, dập gót chân, đứng
nghiêm rồi giơ tay chào và báo cáo Bác:
- Báo cáo đồng chí! Toàn đội du kích đã tập hợp
đủ, mời đồng chí huấn thị.
Tư thế và các động tác quân sự thành thạo của anh
trông rất đẹp, chứng tỏ một trình độ huấn luyện chính
quy rất bài bản làm cho anh em thích thú. Bác nhìn
đội du kích tỏ
VC
hùi lòng, rồi bắt đầu nói, tôi nhớ sơ
lược như sau:
“Hôm nay, đội du kích Việt Minh đầu tiên được
thành lập, chúng ta cần phải nghiên cứu và làm tốt các
SB
nhiệm vụ đã đề ra, có cái làm trước, có cái làm sau.
Tổ chức đã phát sinh thì phải phát triển, muốn phát
triển được tốt, phải qua công tác thực tế mà phấn đấu
và rèn luyện. Các đồng chí là những cán bộ trung
thành, dũng cảm vì đoàn thể, vì dân phải đoàn kết,
chấp hành kỷ luật đội cho tốt, khiêm tốn học hỏi, giúp
nhau thực sự về chính trị, quân sự cũng như trong sinh
hoạt. Đối với nhân dân, đội phải như cá với nước:
nghĩa là đội như là đàn cá mà nhân dân là nước. Cá
không có nước thì không sống được. Nhật, Pháp là kẻ
thù của dân tộc và cũng là kẻ thù không đội trời chung
của cách mạng. Chúng luôn luôn rình mò để diệt cách
mạng, diệt chúng ta. Ta phải đề phòng và tích cực đối
phó sao cho cách mạng và lực lượng vũ trang của
mình được an toàn và ngày càng phát triển cho đến
khi có thể diệt bọn chúng giành lại đất nước. Mặt
khác, còn bao nhiêu vấn đề rộng lớn đang chờ các
đồng chí. Phải cố gắng học trong sách, học trong công
tác và trong chiến đấu. Qua một thời gian công tác,
các đồng chí phải là những người giỏi về chí huy và
lãnh đạo, giỏi về công tác. Chúng ta sẽ tổ chức và phát
triển nhiều đội du kích khác, chẳng những ở Cao Bằng
mà còn ở cả các tỉnh khác. Chúc các đồng chí học tập,
công tác thu được nhiều thắng lợi và xây dựng đội ngũ
ngày càng vững mạnh”.
Nói xong, Bác đưa cho chúng tôi một tập giấy ghi
10 điều kỷ luật của đội và những nguyên tắc xây dựng
và hoạt động của đội. Anh Lê Thiết Hùng thay mặt
anh em hứa với Bác sẽ thực hiện tốt lời dạy của Người
DIU
và học tập tốt trong đợt huấn luyện này. Tiếp đó, anh
hô to: “Lập chính”. Mọi người đều đứng nghiêm quay
mặt hướng vào Bác. Bác giơ tay vẫy và bảo “Anh em
nghỉ!” Tôi chạy ra khỏi hàng định đưa Bác trớ lại thì
Bác xua tay:
Đổng chí ở lại tập cùng với anh em, mình cùng
đồng chí Lộc khắc về, gần thôi.
Ngày thành lập đội du kích đầu tiên ở Pác Bó đơn
giản như vậy nhưng lại rất trang nghiêm và xúc động.
Anh chị em chúng tôi nhớ mãi kỷ niệm sâu sắc đó.
Bác đã đích thân đến khai mạc lễ thành lập đội du
kích đầu tiên này và đã ân cần châm sóc, dạy dỗ
chúng tôi ngay từ những bước đi chập chững ban đầu.
Bác đã đích thân duyệt kế hoạch tổ chức và kế hoạch
huấn luyện, đã tự tay thảo ra 10 điều kỷ luật và
những nguyên tắc xây dựng và hoạt động của đội.
Buổi sáng hôm ấy, tiếng hô khẩu lệnh vang cả thung
lũng. Chúng tôi tập hô khẩu lệnh rát cả cổ nhưng
cũng chỉ thống nhất được một số khẩu lệnh còn vẫn
chưa dứt khoát được nên chọn “nghiêm” hay là “đứng
nghiêm”. Đến trưa hôm ấy, lúc quay trở về nhà,
chúng tôi vẫn tiếp tục bàn cãi rất hăng và vẫn còn có
ý kiến khác nhau. Lúc bấy giờ, Bác ở lán 2, anh em ở
lán 1, Bác và anh em cùng ăn trưa ở lán 1. Gần đến
giờ ăn, Bác đến, nghe anh em trao đổi, Bác tham gia
ý kiến.
Từ đúng thì ta dùng, còn bây giờ chưa thấy oai,
sau này nghe quen rồi sẽ thấy oai. Cuối cùng, anh em
chúng tôi nhất trí chọn từ “nghiêm”. Quả nhiên, về
s a
sau dùng quen, chúng tôi càng thấy thích thú với kháu
lệnh “nghiêm” đó.
Những buổi sáng tiếp sau, chúng tôi vẫn tiếp tục
ra bãi tập và thảo luận việc Việt hóa các khẩu lệnh từ
Hán Việt, thay đổi nhau hô thử kết hợp làm động tác.
Nhưng về động tác vác súng, cũng nảy sinh vấn đề vác
thế nào? Lúc tập, chúng tôi cảm thấy vác theo kiểu
Tây có vẻ oai hơn, kiểu khác không hay lắm. Làm đi
làm lại động tác, rút cuộc thấy rằng do cấu tạo riêng,
khẩu súng Mút-cơ tông hay Anh đô si noa của Pháp
có thể vác thẳng còn các loại súng khác thì phải vác
nghiêng mới hợp. Ngay cả vấn đề chào có súng và
chào không súng, từ động tác đến khẩu lệnh cũng phải
bàn cãi. Có đồng chí bảo chào có súng theo kiểu Tây
là oai nhất. Khẩu lệnh chào có súng chỉ cần động lệnh
thôi hay cũng cần có dự lệnh. Tranh cãi và tập nhiều ở
thao trường mà mới chỉ nhất trí cần có dự lệnh thì
động tác chào mới đều, vẫn chưa nhất trí kiểu chào.
Về nhà, lúc ăn cơm trưa xong, biết việc đó Bác cho ý
kiến và làm động tác mẫu trước. Người cầm cây gậy
dựng ở vách làm súng, ướm đặt bên thất lưng, bàn tay
trái đỡ súng, mũi hướng về phía trước, bàn tay phải
nâng báng súng áp vào thắt lưng, đường thẳng của
súng và người tạo thành một góc nhọn làm thành chữ
V. N hìn động tác chào của Bác, m ôi ngưừi liong
chúng tôi reo lên:
A! Chào theo kiểu chữ V! Chào theo kiểu Việt
Minh!
B3I
Tất cả phá lên cười, Bác cũng mím cười. Thế là từ
đó, chúng tôi thống nhất được kiểu chào có súng, còn
kiểu chào tay không thì không phải là kiểu chào đưa
bàn tay thẳng năm ngón khít lên vành mũ như ngày
nay mà bàn tay phải nắm lại giơ lên ngang đầu theo
kiểu chào trong Đảng. Có khác kiểu chào của Đảng là
chào tay trái. Sau này có đồng chí nói rằng kiểu chào
nắm tay phải là kiểu chào thời Mặt trận bình dân.
Ngày nay, vấn đề khẩu lệnh và động tác cơ bản của
quân đội và động tác cơ bản của quân đội ta đã được
thống nhất và thành nề nếp nhưng cách đây gần 50
năm, trong bước khởi đầu, anh em du kích chúng tôi
đã phải mò mẫm, khó khăn như vậy.
Thật hạnh phúc khi được gặp Người
Lê Thiết Hùng kề '
Làm việc ở Pác Bó một thời gian ngắn, Bác bảo
tôi vạch kế hoạch huấn luyện quân sự. Cũng như
những lần giao nhiệm vụ trước, lần này Bác dặn tôi rất
tỉ mỉ về thòi gian khóa học, trọng tâm huấn luyện, đối
tượng giảng dạy, v.v... Làm xong tôi b'.o cáo với Bác,
Bác xem đi xem lại, cắt tất cả những chỗ thừa, những
chỗ chưa thiết thực. Cách làm việc của Bác hết sức
chu đáo, chặt chẽ, tỉ mỉ, thiết thực.
Đây là lớp quân sự đầu tiên được mở ngay trong
* N guyên Phó Trường Ban Đ ối ngoại Trung ương.
nước. Các đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm cùng
cộng tác với tôi tổ chức lớp huấn luyện này. Hàng
ngày, Bác dành khoảng 15 phút đến thãm lớp học,
gặp gỡ từng đồng chí, hỏi han cẩn thận xem học
viên hiểu đến đâu, chương trình đã hợp chưa? Tối
đến Bác còn gọi chúng tôi lên báo cáo tình hình học
tập của lớp trong ngày, rút kinh nghiệm bổ khuyết
cho ngày sau.
Trước sự chăm sóc đặc biệt của Bác, mỗi học viên
đều cảm thấy trách nhiệm ngày càng nặng nề nhưng
cũng rất vinh dự của mình. Mặc dù thời gian quá
ngắn, nhiều từ quân sự mới khó nhớ, nhưng ai nấy đều
phấn khởi, chăm chỉ học tập, rèn luyện.
Sau một thời gian cùng anh Văn (tức đồng chí Võ
Nguyên Giáp) công tác ở một vùng rẻo cao, tôi lại trở
về gặp Bác. Lúc bấy giờ Bác đã chuyển về Nguyên
Èình. Vẫn đời sống gian khổ, đạm bạc, Bác ăn, ở, ngủ,
làm việc trong một cái hang đá lạnh, ẩm mốc. Hang
này hẹp lòng và tối hơn hang Cốc Bó, nhưng lúc nào
tôi cũng thấy Bác vui vẻ, lạc quan, tin tưởng. Tôi
được gần Bác nhiều hơn. Ban ngày ngoài giờ làm
việc tôi tranh thủ thổi cơm rồi cùng ăn với Bác (Lúc
bấy giờ đồng chí Lộc, người thổi cơm cho Bác đi
vắng). Càng sồng gần Bác tôi càng thấy ở Bác một
tình cảm chân thành nồng ấm, môt tình thương mênh
mông đối với mọi người. Khi một đồng chí nào mắc
sai lầm khuyết điểm mà đã nhận ra lỗi lầm của mình
thì bao giờ Bác cũng tìm cách làm cho họ an tâm và
chỉ cho cách sửa chữa...
B I!
Lúc này quân Đức đang ồ ạt tiến vào Liên Xô.
Báo chí đăng rất nhiều tin tức về những trận tấn công
như vũ bão của quân phátxít và những cuộc rút lui của
Hồng quân Liên Xô. Tinh hình này, không biết cách
mạng sẽ đi đến đâu? Tôi lo lắng hỏi Bác. Bác im lặng
một lát rồi nói :
- Không lo. Cuối cùng Hồng quân nhất định
thắng!
Và để chứng minh cho điều ấy; Bác phân tích cho
tôi rõ sự tất thắng của Hồng quân và sự thất bại tất yếu
của bọn phátxít. Bác nói:
- Nhân dân Liên Xô đã được giải phóng hơn 20
năm rồi. Họ đã từng kinh qua cuộc Cách mạng tháng
Mười vĩ đại, đã từng được Lênin giáo dục và giác ngộ,
dân tộc ấy nhất định không chịu khuất phục bọn Đức
phátxít đâu.
Ngay cả những lúc tình hình hết sức tăm tối, Bác
đã dựng lên trước mắt tôi những hình ảnh đẹp đẽ về
một ngày mai toàn thắng. Niềm tin và tinh thần lạc
quan cách mạng của Bác thật trong sáng, thật vững
chắc, nó đánh tan tất cả những tâm trạng hoài nghi,
hoang mang, nó củng cố lòng tin cho mọi người.
Không một khó khăn, gian khổ nào làm cho Bác chùn
bước, càng khó khăn, gian khổ Bác càng tỏ ra vững
vàng, sang suồt. Bac đá nhìn thây khả nang tiẻm tầng
của ta và sự diệt vong tất yếu của kẻ thù...
Trích từ sách Đầu nguồn. Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977.
m
Tôi được Bác giao nhiệm vụ
Lê Quảng Ba k ể
Từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ tám, phong
trào cách mạng ở Cao Bằng có những bước phát triển
mới vững chắc. Các trạm giao thông đi các huyện
được củng cố. Hồi đó, thấy Cao Bằng còn 90% dân số
mù chữ và trong cán bộ cũng có nhiều đồng chí chưa
biết chữ, Bác chủ trương: “Phong trào Việt Minh tới
đâu, tổ chức học văn hóa ở đó. Người biết dạy người
không biết, người biết nhiều dạy người biết ít”.
Chúng tôi thực hiện chủ trương của Bác, bất đầu
từ cơ quan. Trong học tập đồng chí Thế An gặp khó
khăn lớn, vì đồng chí học đâu quên đấy. Trước khó
khăn đó, Bác đã nhận trách nhiệm dạy chữ cho đồng
chí Thế An. Bác dạy chữ theo cách của Bác, chỉ trong
một thời gian ngắn đồng chí Thế An đã biết đọc biết
viết. Sau đó để bảo đảm tờ báo Việt Nam độc lập hợp
với trình độ nhân dân các dân tộc, Bác thường lấy
trình độ đọc báo của đồng chí Thế An làm mức để
duyột các bài báo trước khi đưa in. Một lần đồng chí
Vân Trình viết bản thạch bị ốm. Lo báo không ra
đúng kỳ hạn, Bác đã cặm cụi ngồi viết thay đồng chí
Vân Trình.
Rất nhiều thơ ca cách mạng Bác viết trong những
ngày Người ở Pác Bó (Lịch sử diễn ca, Mười điều của
chương trình Việt Minh, Địa dư Bắc Kỳ, Địa dư Cao
Bằng, các bài cho thanh niên, phụ nữ, nông dân, phụ
lão, thiếu nhi, binh sĩ cứu quốc, v.v.) được in trên báo
Việt Nam độc lập hoặc in thành sách và lưu truyền
trong nhân dân.
Cùng với công tác chính trị và vãn hóa, trước sau
Bác vẫn rất coi trọng công tác quân sự. Ngoài lớp
quân sự dài hạn còn có lớp ngấn hạn 15 ngày về cách
đánh bộc phá. Bác thường giáo dục cán bộ phòng
ngừa khuynh hướng manh động, nhưng Người không
bao giờ ngăn những hành động quân sự cần thiết. Khi
mới về Pác Bó, Bác đã cho phép tôi tổ chức tìm kiếm
vũ khí.
Tháng 11 - 1941, Bác quyết định thành lập đội du
kích gồm 13 người với đủ súng đạn. Bác giao cho tôi
chỉ huy đội vũ trang thoát ly đầu tiên này. Anh Hoàng
Sâm làm đội phó, anh Thiết Hùng làm chính trị viên.
Đội chúng tôi nhận năm nhiệm vụ: Bảo vệ cơ quan
và cán bộ đặc biệt; Võ trang tuyên truyền cách mạng
trong quần chúng; Xây dựng nền nếp cho các lực
lượng vũ trang sau này; Công tác đặc biệt; Giao thông
liên lạc đặc biệt. Súng của đội vũ trang này, ngoài số
mới đi nhận về, một phần do các đội viên vận động
gia đình tự sắm cho. Đội chúng tôi được chăm lo rất
chu đáo. Bác biên soạn “Mười điều nêrì' và “Chiến
thuật du kích” cho chúng tôi học tập. Người còn đích
thân tham gia việc huấn luyện.
Người dạy chúng tôi: người tham gia du kích phải
có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù địch sâu sắc,
chiến đấu dũng cảm và quan hộ tốt với quần chúng.
Hoạt động du kích phải bảo đảm thật bí mật, ta đến
23
địch không hay, ta đi địch không biết. Người du kích
phải dựa vào dân, dân là tai mắt, và cùng nhân dân
đánh địch,... Trên cơ sở tổ chức, huấn luyện và hoạt
động của đội du kích và qua bàn bạc nhiều lần, chúng
tôi đã bước đầu xây dựng nền nếp để mở các lớp huấn
luyện đào tạo cán bộ tự vệ thôn, xã, huyện, tổng.
Các lớp huấn luyện quân chính của tỉnh và các lớp
của huyện được mở liên tục từ năm 1941 đến 1944.
Tại Pác Bó đã mở hai lớp quân chính của tỉnh. Đồng
thời ở các xã cũng liên tục mở các lớp huấn luyện
quân sự cho tự vệ và tự vệ chiến đấu. Anh em tự vệ
đểu tự sắm lấy vũ khí từ gậy gộc, giáo mác đến súng
kíp, hỏa mai, súng trường. Có một số đổng chí đã bán
cả trâu, bò, ruộng vườn để lấy tiền mua súng hoặc lựu
đạn. Nữ thanh niên mạnh dạn mặc quần áo cộc, đầu
đội mũ, chân quấn xà cạp, đi tập như nam giới. Mười
điều kỷ luật và chiến thuật du kích do Bác biên soạn
được phổ biến rất rộng rãi.
Khẩu hiệu "Lấy súng thù bắn thù" của Bác nêu ra
càng động viên các anh chị em hãng hái luyện tập.
"Ngày nay là giáo mác, gậy gộc, ngày mai là súng ống
đàng hoàng". Anh chị em tin chắc như vậy. Đầu nãm
1942, thấy các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu hoạt động
khá tốt, Bác chí thị cho phân tán đội du kích Pác Bó đi
làm nòng cốt ở các nơi.
Từ đó các lực lượng vũ trang tống, châu, huyện
được thành lập và hoạt động thoát ly tại các địa
phương, bên cạnh các lực lượng tự vệ và tự vệ chiến
đấu xã. Hồi đó phong trào ỉàm vườn không nhà trống,
B IB
mua sắm vũ khí, chuẩn bị vũ trang khới nghĩa khá sôi
nổi. Nhiều tên phản động đắc lực của địch bị trừng trị.
Lúc đầu có nơi diệt tràn lan. Bác đã nghiêm khắc phê
bình và cho học một đoạn chống khủng bố "cá nhân"
của Lênin trong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên
Xô và đem phổ biến cho các nơi rút kinh nghiệm. Do
đó, mặc dù về sau này vắng mặt Bác một thời gian,
hoạt động vũ trang ở Cao Bằng vẫn đúng hướng và
vững vàng. Chủ trương của ta lúc đó mới là đánh để
tránh chứ không bộc lộ lực lượng...
Trích từ sách Đầu nguồn Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977
Bác dặn phải tìm hiểu kỹ tình hình
và linh hoạt giải quyết
Cao Hổng Lãnh k ể '
Những năm 1943 - 1944, tình hình ở biên giới
Việt - Trung có nhiều khó khăn phức tạp. Hồi ấy, bọn
Đồng minh chống phátxít muốn vào nước ta. Chúng
đã phái người xuống Bình Mãng, nơi giáp giới Sóc
Giang (Hà Quảng). Chúng yêu cầu ta giúp chúng
chống Nhật. Các đồng chí địa phương báo cáo chuyện
này lên Bác, Bác cho gọi tôi đến. Thấy tôi, Bác nói
ngay: Đám này là đám Đồng minh, chúng nói chống
Nhật nhưng chúng vào đây cốt đế năm tình hình cúa
Nhật, đồng thời cũng để nắm tình hình về ta, cho nên
* N guyên Phó Trường Ban Đ ối ngoại Trung ương.
25
chúng đưa cả diện đài vào. Đám này chú yếu là hoạt
động tinh báo đấy, vì vậy chú phải xử trí cho khéo.
Bác đưa ra mấy phương châm phải nhớ để giải quyết
công việc:
- Thứ nhất là làm điều gì có lợi cho nó tức là có
hại cho mình.
- Thứ hai là không từ chối mà cũng không hứa
hẹn gì.
- Thứ ba là chiêu đãi rất tốt, đối xử tốt về cả vật
chất lẫn tinh thần.
Bác dặn phải tìm hiểu kỹ hoàn cảnh của chúng nó
mà linh hoạt giải quyết. Nhờ có ba phương châm này
mà tôi cùng Quốc Vân như có được chỗ dựa mà ứng
phó với địch. Càng làm đúng lời Bác dạy, tôi càng
thấy Bác thật vô cùng sáng suốt.
Trích từ sách: Đầu nguồn. Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977
Những gì còn dùng được
không nên phạm phí
Tống Minh Phương k ể
Cuối năm 1944, Hồ Chủ tịch từ trong nước có
việc sang Cỏn Minh. Bác sống ở nhà tôi trong mấy
tháng. Mải sau này tôi còn nhớ những ngày được
gặp Bác lần ấy. Bây giờ ngồi kể lại, tôi cứ bồi hồi
như đang nâng niu trong tay vật gì thiêng liêng quý
báu lấm, chỉ sợ sểnh tay không giữ được trọn vẹn.
sa g
Tôi chi sợ nhớ không được hết, ghi không được
đúng hình ảnh Bác trong những ngày đầy ánh sáng
ấy của đời tôi.
Bác tới vào một buổi chiều mùa đông. Cảm giác
đầu tiên của tôi là thấy Bác gầy quá. Đôi mắt Bác vẫn
trong sáng, hiền từ như thế, nhưng đôi gò má của Bác
cao lên. Da Bác không được đỏ đắn, tóc Bác đã bạc
nhiều... Bác mặc một bộ quần áo nhuộm chàm phai
màu; trời rét, Bác khoác thêm một cái áo bông ngắn
sờn vai. Lúc tới, Bác đi đất, đầu đội một cái mũ vải
cũng nhuộm chàm.
Nhà tôi là một tiệm cà phê. Hồi ấy tôi chưa được
tham gia tổ chức, mới còn gọi là một người cảm tình,
nhà tôi là một cơ sở hoạt động của Đảng ở Côn Minh.
Tôi thu xếp mời Bác nghỉ trong một căn buồng trên
gác, một căn buồng chật hẹp, chỉ đủ kê một cái giường
Bác nằm và một cái bàn Bác làm việc, nhưng có một
khung cửa sổ. Thu xếp xong chỗ nghỉ cho Bác, chúng
tôi soạn lại hành lý của Bác. Việc này phải nhờ mấy
anh cùng đi với Bác - anh Phùng Thế Tài và một đồng
chí người thiểu số lúc ấy tên là Minh. Thực ra cũng
chẳng có gì mà soạn. Hay nói cho đúng, những thứ Bác
mang theo đều nên bỏ, đều nên thay, kể từ cái khăn
mặt đến cái ống đựng thịt muối. Cái khăn mặt của Bác
nhuọm chãm bạc Ihéch đa rách gàn hei. Đ oi giày của
Bác mang theo càng rách hơn, Bác đi đến nỗi lòi cả
chân ra. Còn ống thịt muối? Hai anh Phùng Thế Tài và
Minh ngày ấy còn rất trẻ. Các anh mở nắp ống thịt
muối ra, lắc đầu kể lại cho chúng tôi nghe về “món
thịt” ấy dọc đường. Các anh bảo đúng ra phải gọi là
“muối thịt”, vì thực tình đến chín phần muối mới có
một phần thịt. Dọc đường vượt biên giới, mỗi ngày đi
bộ, đến nơi phải nấu ăn, người nấu cơm, người đi hái
rau rừng, muối ấy và vài miếng thịt bỏ vào nấu canh.
Ăn được nhiều, ít, Bác vẫn theo kịp hai anh đường
trường, dốc núi. Hành lý của Bác, đáng kể nhất chính là
ống thịt muối ấy. Nhưng cả ống thịt muối chúng tôi
cũng muốn bỏ đi, khi nào Bác về sẽ làm ống khác.
Nhưng Bác không cho làm thế, không cho vứt bỏ
thứ gì cả, Bác bảo: đồng bào, các đồng chí ở nhà còn
khổ, những thứ ấy còn dùng được. Nhất là ống thịt
muối, không nên phí phạm. Cùng lắm, Bác mới cho
mua cái khăn mặt, và vì công việc cần thiết, Bác mới
cho mua đôi giày vải. Lúc nhà tôi đi mua, Bác còn
dặn mua đôi ít tiền bằng vải thường thôi. Chiếc khăn
mặt mua về, Bác lại đem nhuộm xanh, còn đôi giày
vải, Bác phê bình vì nhà tôi đã mua một đôi loại
kha khá.
Đường xa lâu ngày, lại lội suối, leo núi, Bác tới
nơi thì mệt. Bác không cho đưa đi bệnh viện, sợ có
những việc bất trắc. Bác chỉ cho nhà tôi mua vài ống
thuốc...
 





